Blast

Có một cầu vồng vô tình bắc ngang qua. Hai ta muốn qua nhưng vô tình lần lữa. Lỡ một lần rồi thêm một lần nữa...


Showing posts with label mystory. Show all posts
Showing posts with label mystory. Show all posts

Wednesday, March 18, 2009

Chuyện tình con gái Báo



Câu chuyện thứ 1: Hợp đồng hôn nhân hay Gặp nhau hết một bàn tay thì sẽ yêu

Năm 2 ĐH, em “xiêu vẹo” vì anh. Chỉ là tình cờ nghe ông ổng một giọng ca rất ngọt bài “Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà”, tò mò ngó ra và… “cảm” anh. Truy được số điện thoại, gọi làm quen, tám đã đời nhưng anh vẫn ko biết em là ai ngoài việc hai đứa cùng trường. Lần thứ 2 bắt gặp anh trên sân khấu một hội thi trong trường. Nhào vào cổ vũ khí thế. Nghe đâu năm ấy anh đã có người yêu, một chị bạn Báo chí, trên em một khóa.

Lần thứ 3 gặp lại. Người yêu anh vừa đi lấy chồng được 2 năm. Em cũng mới thất tình. Anh tâm sự bảo mẹ anh bắt tết năm nay phải dẫn người yêu về ra mắt, 2 năm nữa cưới. Anh đang cần tìm một cô bạn gái với các điều kiện như sau: Con gái tuổi cọp, thích bay nhảy (con gái Báo chí thì càng tốt), lương dưới 5tr (nghĩa là ko đc cao hơn lương của anh). – Ôi, anh đang lấy em ra làm hình mẫu để diễn tả đấy à? Phát hiện ra anh dân miền Tây (chớp chớp mắt), lại tuổi Tuất, tuổi này hợp với em lắm đây. Mẹ em đã chả ra rả từ xưa đến giờ: “Mày chỉ có lấy tuổi chó thì hợp” thôi sao. - Úi, hay là mình cua nhau nhỉ? Phải mà chịu thì anh cũng cua. - Chưa cua sao biết là ko chịu chứ?! Sao em lại thích con trai miền Tây? Giữa con trai Bắc – Trung –Đông –Tây thì em vẫn thích con trai miền Tây hơn cả…

“Phôn” về khoe mẹ: “Mẹ, con đã tìm được cho mẹ một… con chó rồi nhá, há há”. Xong lại nói chuyện với anh khoe em vừa báo với mẹ như thế. Anh bảo em vô tư quá, ai lại nói với người có thể là bạn trai mình những chuyện như vậy bao giờ! Vậy tụi mình làm hợp đồng hôn nhân nhé. 2011 cưới. 2015 có baby. – Ko, 2015 em mới cưới. – Thế thì 2012 vậy. Còn nếu 2015 mới cưới thì 2012 phải có baby. Phải giữ lại con Cò con làm tin chứ… anh sợ con gái báo chí lắm. – Mới gặp nhau 3 lần mà bàn chuyện cưới hỏi rồi, có nhanh quá ko? Thế mình gặp nhau hết một bàn tay thì yêu nhé! Cúp máy, nhìn lại, em và anh “tám” với nhau sơ sơ có hơn 1 tiếng rưỡi qua điện thoại di động. Bọn bạn bảo kiki đang quý hiếm lắm vì giờ này kiki nào cũng có… xích và bảng tên ở cổ cả rồi. Đâu dễ gì kiếm đc một “ em” còn lang thang thế này. Khe khe (cười gian xảo). Chiến dịch trái tim bắt đầu……….

Câu chuyện thứ 2: Chỉ cần có kiên nhẫn

Từ bao giờ, em cứ tò mò về anh và đặt cho anh cái biệt danh… anh cà chua. Từ bao giờ em đã trông ngóng được gặp lại anh, liên lạc đc với anh khi chả có mảy may thông tin gì ngoài việc anh là bạn thân của sếp. Và từ bao giờ em hớn hở vui cười khi bất ngờ nhận đc tin nhắn chúc mừng của anh vào dịp lễ…

Làm sao em biết đc anh “đổ” em ngay từ lần gặp đầu tiên? Làm sao em ngờ đc anh nhớ hết những gì em nói, chiếc áo nào em mặc, nội dung tin nào em nhắn cho anh. Làm sao em biết đc cái máy hình sếp em chụp em lại là của anh đưa cho? Để rồi anh đem về chưng hình em chình ình trên desktop máy tính. Làm sao em biết đc anh đã vượt qua những áp lực tâm lý khi những người lờ mờ nhận ra tình cảm của anh với em đều đổ vào đấy hàng rào bê tông cốt thép dập tắt mọi hi vọng của anh. “H. ko thích kiểu ng như mày đâu. Nó dữ lắm đấy… Nhà nó khó, cao lắm mày ko với tới đâu… Làm sao mày có thể hợp với H. đc…”.

Vậy mà từng ngày, từng ngày, em “đổ” về anh lúc nào ko hay. Dù anh xấu hơn mẫu bạn trai em mơ ước, dù anh thấp – chỉ đủ cao hơn em một tí và dù anh với em chẳng hợp tuổi nhau tẹo nào. Dù anh là anh cà chua mà em vẫn hay chọc: “Đi với em, anh có thấy xấu hổ ko (vì em xinh còn anh quá xấu)” nhưng anh vẫn làm em nể, em nghe lời chứ ko như hàng loạt những người vẫn hay nhắn những cái tin nhàn nhạt cho em: “Hôm nay em mặc áo màu gì?”, Em thích sao cũng được, Em chọn chỗ đi, tùy ý em đấy… Bởi em biết, con gái BC tụi em đã thấm vào máu một chút ngang tàng, một chút bướng bỉnh, nếu ko nể, ko sợ thì ko thể nào yêu đc, hoặc cùng lắm, quen nhau mấy ngày là chán thôi…

(Truyện có thật 100%, ghi nhận dài kỳ. Để đảm bảo bí mật cá nhân, tên nhân vật có thể đã được thay đổi)

Sáng, mới bàn với L về Oxford thương yêu. Hai đứa rút ra kết luận: Ko khó để tìm Kim trong số con gái Báo chí nhưng hình như anh chàng Fernando thì đã... tuyệt chủng từ lâu rồi...

Photo: Sdlethanh img

Saturday, October 4, 2008

Cổ tích của vịt con



Vịt con mở mắt. Trước mặt là mẹ gà. Người đầu tiên mình bắt gặp khi mở mắt chắc chắn là mẹ. Mọi người đều bảo vậy. Vịt con theo mẹ gà gọi mẹ, mẹ. Sau một thời gian quang quác chối, bảo làm con mẹ gà phải thế này, thế kia, cuối cùng mẹ gà cũng chịu nhận vịt con làm con. Mẹ thì cái gì cũng tốt. Nghĩ vậy, luôn luôn tin tưởng vậy nên nó cứ mải miết chạy theo mẹ gà. Thế nhưng, nó ko cục ta cục tác giống mẹ gà đc, cũng ko thể chíp chíp giống các anh chị nốt, càng ngày nó càng thấy mình khác người, cứ càng cạc, càng cạc… giữa một bầy gà ríu ra ríu rít. Phớt lờ những lời đàm tếu xung quanh, nó nghĩ mình ko giống mẹ hay vì mình giống cha? Điều bấu víu cuối cùng của nó cũng lung lay khi càng ngày nó càng phát hiện mình ko thích ăn giun như mẹ gà, mình ko thể bay cao như những con gà (trống) khác và một điều đặc biệt là nó thích ao hồ, nó thích bơi trong khi mẹ gà rất kém bơi. Ngày đầu tiên nó kéo mẹ gà nhảy ùm xuống ao, thấy mẹ gà chới với trong dòng nước, nó đã hụt hẫng biết chừng nào. Xưa giờ trong mắt nó, mẹ gà lúc nào cũng là số 1 còn gì…

Rồi một ngày, nó gặp một anh vịt xám. Anh vịt xám dạy nó bơi, dạy nó cạp cạp lướt qua những mớ rau bèo nó thích ăn. Anh vịt xám dạy nó nhiều điều, mà với bản năng của một con vịt, có thể rồi nó cũng biết nhưng có anh vịt xám thì nó biết sớm hơn. Quan trọng hơn cả là anh vịt xám giống nó, biết bơi, thích ao hồ và cũng kêu càng cạc, càng cạc… Có lúc nó những tưởng anh vịt xám là số 1, là người quan trọng với ý nghĩa khác mẹ gà của mình. Ấy thế mà ko phải vậy. Càng ngày nó càng khó hiểu anh vịt xám. Nó thấy thế giới người lớn thật phức tạp. Đó cũng là lúc nó phải chấp nhận một sự thật mẹ gà ko phải là mẹ của mình. Đó cũng là lúc nó phải chấp nhận cái điều mà trước đó nó đã cố tình ko hiểu: Một con vịt sống trong thế giới của vịt từ bé thì sẽ ko thể giống mình – một con vịt lớn lên trong tổ gà.

Vịt con lủi thủi ra ao. Nó chẳng biết đi đâu, về đâu. Từ khi mở mắt, nó chỉ biết chạy theo mẹ gà, nó chỉ biết nghe theo lời anh vịt xám. Bây giờ, nó quay lưng với cả hai. Có thể nào nó lại chạy theo một con vịt khác để gọi là mẹ? Có thể nào nó lại chạy theo một anh vịt khác khi chưa bao giờ nghĩ đến phương án dự phòng cho mình? Nó lơ ngơ sống trong tổ gà, thích nghi những điều vốn chẳng xa lạ gì với nó. Nó kiềm cái ước muốn tung tăng ao hồ. Nó kiềm cái ước muốn bơi lội cùng anh vịt xám. Dù nó biết, anh vịt xám có xấu đến bao nhiêu, mẹ gà có khác nó thế nào thì đó vẫn là hai người nó nghĩ đến trước tiên, mỗi khi ra hồ.

Nếu có một câu chuyện cổ tích cho mình (chuyện cổ tích thì lúc nào cũng kết thúc có hậu), nó ước giá nó là một con gà, bình thường hoặc là một con vịt có đủ can đảm để phớt lờ mọi thứ và nhảy ùm xuống ao hồ. Bản năng của loài vịt và sóng nước ao hồ sẽ giúp nó hoặc bơi giỏi như anh vịt xám hoặc là dìm nó xuống lòng hồ, để khi nổi lên, nó lại là một con vịt, đúng nghĩa!

Saturday, April 19, 2008

Trốn chạy



Một ngày đi chơi với vị hôn phu, tôi bắt gặp người mình yêu cồn cào thuở trước. Sững người. Tim ngừng đập. Trong khoảnh khắc tôi quay ngoắt 180 độ bước ra khỏi nơi có sự hiện diện của “giấc mơ thưở nào”. Nhưng rồi quay ra, vẫn là vị hôn phu của tôi. Anh đang cười, một nụ cười hiền đến… đáng chán. Anh tốt và tạo cho tôi cảm giác yên ổn. Nhưng không phải là người tôi yêu. Thật lạ là sau bao năm, bẵng đi một thời gian dài như vậy mà cảm xúc của tôi với ex-love vẫn vẹn nguyên như buổi đầu.

Tôi quay trở vào. Muốn gặp anh, chào một cái rồi đi. Ừ, có gì đâu mà tôi phải chạy trốn? Tôi là người rời bỏ anh trước cơ mà. Vẻ lãng tử của anh đã bớt hơn so với ngày xưa, hoặc chăng là anh vẫn vậy nhưng tôi đã bớt mơ mộng hơn ngày đầu. Công việc vẫn cuốn anh vào và hiển nhiên, anh vẫn trong vòng vây của các cô gái khác. Tôi không đủ sức để chen qua cái đám đông ngột ngạt ấy, không muốn làm gián đoạn công việc của anh. Tôi cũng không đủ mạnh mẽ như cô gái trẻ đẹp bên kia, nhoài người lên, túm lấy anh để được anh chú ý. Tôi cứ dõi theo anh. Từng cử chỉ, từng nụ cười ngày nào đã làm tôi vật vã. Bên kia, vị hôn phu của tôi vẫn thường trực với nụ cười hiền. Anh làm tôi thấy lạc lõng trong cái khu vui chơi giải trí rộng đến thế này, dù tôi biết lúc nào vị hôn phu cũng cách mình có vài sải chân. Tới lui đều gặp.

Trời bất chợt đổ mưa. Lại mưa. Vị hôn phu kéo tay tôi chạy mà tôi cứ ngẩn người ra. Mưa làm tôi nhớ đến anh. Quen anh trong mùa mưa. Những chiếc dù lúc nào cũng được để sẵn. Dù xanh đen u ám nhưng to, rộng và vững chãi. Những ngày co ro, ướt sũng như một con mèo mướp bên hiên nhà ai đấy, vẫn thầm ước giá một lần, vô tình gặp được anh ngang qua. Nhưng rồi hết mùa mưa này đến mùa mưa khác, anh vẫn cứ biệt tăm.

Chia tay vị hôn phu. Một mình đi dạo dưới mưa, lơ mơ những ý nghĩ. Rất nhiều mà cũng không nhớ mình nghĩ gì. Mấy lần ngẩng đầu lên là những chiếc xe lướt qua xé gió, chỉ cách tôi vài centimet. Cuối cùng tôi vẫn không gặp được anh. Không chào anh được một tiếng. Vẫn cứ là trốn chạy. 6 tuần nữa tôi cưới. Đúng dịp chia tay anh năm nào. Hi vọng trời không mưa, nếu không biết đâu tôi lại chẳng chạy trốn trước lễ đường như đã từng chạy trốn trước anh…

Saturday, February 2, 2008

Quy hương ký - Phần 6B



NHỮNG NGÀY NẮNG GIÓ

Sáng mùng 1, bình minh lúc 8h. Người quê quen dậy sớm nhưng chắc bà biết ý, để hai chị em ngủ bảnh mắt mới thôi. Cô đã chuẩn bị xong bữa sáng nhưng với khẩu vị ko thay đổi thì tất nhiên ăn uống vẫn chẳng khác gì hôm qua.

Phụ bà sửa soạn mặc áo dài, đóng khăn mới thấy người bà ốm tong ốm teo. Có lẽ người già đều thế cả vì chú và cô cũng chăm nhiều lắm chứ! Thức ăn, thuốc bổ đều đặn gửi ra… Ko rõ bà sang nhà nào đấy trong làng chúc tết mà giao hẳn nhà lại cho hai cô cháu mới lơ ngơ về. Tôi với Bá lo loay hoay dọn rửa. Cái gọi là dọn của “bác” Thao cũng chỉ là gôm lại 1 đống cho gọn hơn chứ lôi ra cũng vẫn dơ như thường. Tôi với Bá chỉ biết lắc đầu. Người làng qua lại thấy hai chị em thi nhau giặt đồ (ko có Quân nữa, phải tự thân vận động thôi) thì lấy làm ngạc nhiên lắm. Làm như người TP thì ko phải đụng tay đụng chân đến giặt giũ ko bằng. May mà nước đã làm thành hệ thống, có vòi vặn chứ không phải kéo từng gàu nước giếng hay kích từng kích một lên như ngày mấy mẹ con về.

Hai chị em thay phiên nhau, để một người ở lại tiếp tục dọn dẹp, trông nhà. Một người chạy sang nhà ngoại. Giao kèo 30 phút. Tôi đi trước. Vừa nhác thấy bóng tôi là Quân với mấy đứa em họ đã tới tấp kể tội hôm qua. Quân phủ đầu: “Hai chị về đây để ngủ đấy à?”, rồi thi nhau kể chuyện gọi tôi với Bá khản cổ thế nào, đi chơi Giao thừa vui lắm ra sao… Lạ một điều, dù không cố tình, cùng là làng quê nhưng khẩu vị bên ngoại lại hợp với tôi và Bá. Ko biết có phải vì Quân biết khẩu vị nên góp ý thêm ko nữa. Lúc nào dì cũng dành sẵn phần cho hai chị em. Ăn uống qua loa, đúng 30’, tôi chạy về vì sợ Bá trông. Trong 30’ ấy cũng kịp có 2 đoàn người đến thắp hương, chúc tết bên nội. Bá bảo chẳng biết ai với ai, cứ ngẩn tò te ra. Mà người làng cũng lạ, thừa biết tụi mình đi từ tấm bé, lần đầu gặp mặt, vậy mà cứ bắt bẻ nhau “mày có biết tao là ai ko?”.

Bá đi, đến lượt tôi “home alone”. Tiếp tục sự nghiệp dọn rửa mà Bá đang để dở. Chưa kịp dọn xong trà bánh của đợt khách trước, đã lại thấy có người ghé sang. Chỉ một người “lỡ cỡ”, chắc đâu chừng hơn tôi 5-6 tuổi gì đấy. Vẫn câu hỏi xưa như trái đất “mày có biết tao là ai ko?”. Trông mặt quen, quen lắm. Sực nhớ ra, ngờ ngợ, nét mặt của anh Anh “A, anh có phải anh Dũng ko?”. Thay vì vui mừng, ít ra tôi cũng nhận ra đc thì hồi đáp lại tôi cũng là một câu bắt bẻ: “Mày phải gọi tao bằng chú đấy!”. Rõ ràng là anh ruột của anh Anh, theo bên ngoại thì tôi gọi là anh, theo bên nội thì phải gọi bằng chú. Lấy thước đo khoảng cách mấy đời của hai bên nội ngoại đến đời anh ấy đều bằng nhau, gọi bên nào mà chẳng thế. Sao thiên hạ cứ thích mình đc… già thế ko biết!

Bá ko giữ đúng hẹn 30’ mà kéo đến cả tiếng mới trở lại. Báo hại tôi một mình loay hoay với những tốp khách khứa “biết ai chết liền!”. Hỏi mối quan hệ thì kể ra từ thời ông cố ông sơ, giọng đầy kẻ cả. Ngồi nghe nói chuyện như vịt nghe sấm, thỉnh thoảng lọc ra đc trong đó một vài cái tên mà mình quen. Về, báo cáo lại với bà, cũng ko nhớ hết tên để mà kể…

Để tránh cái tiếng về quê làm khách, thấy một mớ khoai tây trong xó nhà, tôi kiếm vài thứ làm khoai tây chiên. Khoai tây ở ruộng, mới dỡ lên vài ngày trước đó, tuy ko to như khoai tây trong này nhưng rõ là có vị của làng quê. Cũng vào bếp, nhóm củi như ai. Hỏi mượn Trung những thứ rổ rá, muối, dầu. Trung đảm đang có tiếng, lan cả vào trong Nam. Nó cũng mồ côi cha, đâu như từ lần tôi về thăm quê dạo bé. Từng nghe chuyện một tay nó giặt giũ, săn sóc nhà cửa, đồng ruộng, cơm nước cho mẹ và em, chẳng từ bất cứ chuyện gì. Nhưng tính nó trầm, lầm lầm lì lì, ai hỏi thì nói đc một vài câu rồi thôi chứ ko tán chuyện thêm như thằng em Tá hơm. Nghe cô bảo nó cũng lớp 12 rồi, dự định học xong sẽ lại gửi vào cho chú…

Món khoai tây chiên của tôi ngon ngoài dự định. Cứ sợ ko quen bếp rơm, trở tay ko kịp sẽ cháy đen thui cơ nhưng giờ bếp rơm, bếp củi cũng có đồ… vặn nhỏ lửa rồi. Thấy hai chị em ăn ngon lành, cô bảo ngoài ruộng còn nhiều lắm, để dỡ về cho mà ăn…

Xin phép ra ruộng chơi. Cô bảo để cô dẫn đi nhưng tất nhiên là từ chối. Ko dám đi theo lối nhà bà ngoại, vì sợ lại mang tiếng suốt ngày cứ lẩn ra ngoại chơi, mặc dù thực tế là như vậy. Đi con đường ngược lại, theo hướng nhà cũ của dì. Nhớ mang máng trong ký ức có bụi tre đầu ngõ, có cây cau cao vút ở sân sau nhưng loanh quanh thế nào chả rõ lại men ra phía ruộng. Quành ngược lại nhà chú dì. Vướng một cái chuồng gà chắn ngay đường đi mới quái. Ko làm sao đc, hai chị em đành quyết định đi đường đồng, leo lên những bờ ruộng để đi. Mới bước đc vài bước lên bờ ruộng rộng độ chừng một gang tay thì đã nghe văng vẳng tiếng la từ trong nhà: “Tề, ruộng mới đắp bờ, khéo lại xỉa xuống hỏng hết mạ chừ!”, vừa nói xong thì tôi… xỉa ruộng thật. Bờ mới đắp nên mềm èo. Lết nguyên một cái chân lấm lem đầy bùn sình về nhà dì. Quyết thấy cứ chọc mãi “Ớ chờ tề, đi mô lại xỉa ruộng kia?”.

Quyết độ chừng 13 tuổi mà choắt đi đến 3 tuổi, chắc để bù lại cái miệng rộng hoạt động ko lúc nào ngừng nghỉ. Nó sinh đúng dịp tôi về quê đợt bé. Thừa hưởng tất cả sự tếu, lém và láu của bố nó. Suốt ngày trêu ngươi tôi đến phát tức lên được. Nó ko sợ ai ngoài bố nó. Cà rỡn với cả chú bác lẫn ông bà. Ở nhà ngoại thoải mái, thích ngắm nhả vườn xinh xinh trồng đủ loại rau thơm, gia vị. Thích những bụi chuối trĩu buồng. Cây mận ngay ao, leo lên thấy đàn vịt nhẩn nha trắng cả khoảng ao phía dưới. Có chiếc xuồng be bé để đi vớt bèo. Tôi háo hức đòi nhảy lên, cứ tưởng dễ vậy mà Quân lên trước, cầm tay dìu từng xíu một tôi vẫn cứ la oai oái lên vì xuồng chòng chành. Chỉ cần sơ suất xíu thôi là uống nước với vịt như chơi.

Chiều chiều, mấy chị em lại tha thẩn ra ngoài đồng, cách đó vài bước chân. Đây là ruộng bắp, cây thì trổ cờ, cây thì trái già làm giống. Đây là ruộng rau xà lách nhà mình. Cây nào cây nấy xanh non nhưng cắt vào ăn lại đăng đắng vì quá lứa thu hoạch. Đây là ruộng khoai tây, nhổ lên chắc khối củ. Ruộng nhà mình từ bên này qua bên này, tát nước, cấy ra sao. Kia là ruộng bắp cải, su hào mà tôi thích chí cứ ôm mãi cái bắp to đùng ko rời, cho đến khi Quân bảo “Chị biết trong đó là cái gì ko”…

Ngồi lên gò đất mà Quyết cứ hù là gò mả, trông bao quát toàn cảnh đồng đầy gió. Quân bảo ở đây nhiều cua, ốc, hứa sẽ bắt đãi tôi với Bá một bữa trước khi về. Xa xa là gò mả thật, nơi mẹ Nghiêm nằm. Nơi kia là khu chợ phiên, kia là đình… Ngồi mãi đến khi có tiếng đứa nào đấy gọi về ăn cơm. Lũ chó cũng ve vẩy đuôi về, chả rõ chạy theo tụi tôi từ lúc nào ko biết. Nhưng chưa kịp ngồi nóng chỗ, ăn chưa xong bát cơm thì đã thấy cô sang gọi về: “Đấy, tôi biết ngay thể nào hai chị cũng ở đây. Viền, đi lên Cẩm với bà tề!”.

Quy hương ký - Phần 6A (2/2/ 2008)

VỀ QUÊ

Chuyến xe về quê không yên bình như tôi vẫn nghĩ. Hành khách trên xe đông đúc, chen lấn nhau. Những bao tải chè chất đầy lối đi, muốn vào ghế ngồi phải đi trên những bao chè nghe lạo xạo tiếng chè bị đạp vụn. Ba chị em ngồi ở ghế cuối cùng của xe, nơi dằn xóc nhất. Bên cạnh là một anh bộ đội, không rõ lắm binh chủng. Tài xế phóng xe chạy như bay, không cần biết đường sá thế nào, hành khách ra sao. Cứ mỗi bận qua một chỗ gấp đường là cả 4 hành khách ghế cuối cứ lơ lửng không chạm ghế, mà những chỗ gấp đường thế này có phải thi thoảng gì cho cam. Có tiếng la oe óe than phiền, có tiếng chửi rủa nhưng hình như não trái của tài xế không nhận diện được thứ ngôn ngữ ấy. Xe vẫn chạy băng băng. 2/3 thời gian ngồi trên xe là lơ lửng. Anh bộ đội nãy giờ lẩm bẩm đã rủa thành lời to: “Bác tài chạy cứ như tù trốn trại không bằng”, “Bác tài chạy thế này thì giết người mất”… Không khí xe ngột ngạt, vài vị khách “đáng kính” còn đốt thuốc phì phèo. Lần đầu, tôi yêu cầu tắt thuốc, những vị khách ấy cũng nể nang, dụi điếu thuốc dù mắt trông chừng vẫn còn luyến tiếc lắm. Độ chừng một tiếng sau thì cơn thèm không thể kiềm chế được, họ phớt lờ những yêu cầu của tôi và cơn say vật vờ của Bá.Mùi xe, mùi người, mùi khói thuốc làm Bá say thật, lả người ra. Nhưng Bá không dựa vào người tôi mà nghiêng về phía… anh bộ đội. Cái chứng say của Bá cũng thật buồn cười, nghiêng về phía tôi thì nhức đầu, buồn nôn còn hướng ngược lại thì ngủ yên. Đành xin phép anh bộ đội cho dựa ké, anh ấy vui vẻ bảo “Cứ tự nhiên”. Sáng ngày Giao thừa, con đường quốc lộ băng qua những đồng ruộng bình yên, tĩnh lặng. Chỉ những lúc đi ngang qua các thị xã, thành phố mới thấy vẻ đông đúc, nhộn nhịp ngày Tết. Mở cửa sổ để hít lấy hít để cái không khí mát dịu, thinh thích. Sau 4 tiếng cực hình trên xe, anh bộ đội chào tạm biệt để xuống thị xã Tam Điệp. Tôi, Bá và Quân còn chịu trân thêm 2 tiếng nữa mới xuống bến xe Thanh Hóa. Thở phào. Đc hít khí trời, Bá cũng khỏe hơn ra. Bến xe gần ga, đi taxi chừng nửa tiếng nữa là về đến làng. Ở đây là có thổ địa rồi nên ko lo nữa. Quân chỉ đường đi ngắn, lại kiêm luôn hướng dẫn viên. Nó chỉ cho tôi và Bá bằng cái giọng đầy hào hứng, đây là thị trấn rừng thông, nơi có khu rừng thông nó và bạn bè vẫn leo lên chơi, ở đỉnh có cả đền Hùng nhưng chẳng khi nào lên đến đỉnh đc. Kia là trường cấp 2 Đông Ninh của nó. Nọ là trường cấp 3 Nguyễn Mộng Tuân. Còn đây nữa, nhà vườn hoa hồng người ta đang tranh thủ cắt ra chợ bán, đây là chợ huyện… Những cái địa danh lạ hoắc lạ huơ với tôi và Bá. Chỉ xuýt xoa mỗi khu người ta trồng hoa hồng, Quân bảo cứ về nhà rồi Tết nó sẽ dẫn lên đây chơi, mua hoa, rẻ lắm!Xe từ đường cái lớn, rẽ vào con đường làng bé tẹo, rải đá dăm, hai bên là ruộng mà thoạt nhìn tôi ko nghĩ xe có thể chui lọt. Qua những cái ngoặt còn bé hơn nữa, những chỗ tưởng chỉ vừa đủ 2 người đi, làng dần hiện ra, ko phải bao quát mà là từng mái nhà, con người. Đầy lạ lẫm. Theo lời chỉ dẫn của Quân, xe dừng lại trước một căn nhà, khoảnh sân khá rộng rãi. Hầu như nhà nào ở đây cũng xây theo lối này. Xuống xe, mắt vẫn còn hoa hoa. Người trong nhà ko kịp ngó 3 đứa, từ trong sân nói vọng ra văng vẳng mà tôi đoán chừng cả làng cũng nghe rõ mồn một: “Ai đỗ xe trước nhà tôi đấy?”. Hình như là… bà nội. Vẫn ko khác gì lắm trong trí nhớ của tôi. Vóc người be bé nhưng tinh lắm. Bà nhận ra ngay Quân: “Ái chà, chú Quân” rồi mới ngờ ngợ ra hai đứa cháu. Một mối quan hệ lằng nhằng. Xét về đường họ, bà gọi bố của Quân bằng… chú. Nếu bố nó ko lấy dì của tôi thì tôi cũng phải gọi nó là chú như thường. Quân xách đồ về nhà, tức bên ngoại của tôi. Tôi hỏi nó đường ra, nó chỉ tay về phía trước: “Dễ lắm, hai chị cứ đi thẳng đường này là đụng nhà mình”. Lề ở quê vẫn quen thói hướng nội nên về buộc phải rẽ sang bên nội trước rồi muốn đi đâu mới đi được. Sắp xếp sơ đồ đạc trong gian nhà, tôi với Bá xin phóng ngay ra nhà dì để biếu quà. Cái cảm giác nhẹ nhõm khi thoát khỏi mớ đồ đạc lỉnh kỉnh. Cái mùi của làng quê làm thư thái cả người, cái mùi ko lẫn vào đâu đc: mùi đường ko có khói bụi xe cộ, mùi ngai ngái của rơm, của bò lẫn đồng ruộng. Đúng theo tay Quân chỉ, tôi và Bá cứ đi mà hoang mang chẳng có chút ấn tượng gì trong ký ức. Bá cả chục năm chưa về quê lần nào, tôi về 1 lần hồi… lớp 2. Lúc ấy ông bà vẫn ở trong nhà cũ. Đang đi thì gặp người quen: Bà Huê. Bà vào Nam, ghé nhà tôi thường xuyên. Mối quan hệ từ thời ông nội đã mang theo sau cái chữ “họ” rồi. Chỉ biết tôi gọi con bà là chú, gọi bà là bà, năng đến nhà nên gần hơn một tý, vậy thôi. Bà ngạc nhiên: “Ớ, hai đứa đi mô?”, “Ra nhà bà ngoại ạ!”. “Ra đấy sao lại đi đường ni?”. Bà cười xòa rồi chỉ hai đứa theo đường ngược lại. Việc chỉ có vậy thôi mà hôm sau cả làng đều biết hai chị em đi sang nhà bà ngoại theo hướng đường cái. Cái thằng Quân rõ thật là, mình lạ nước lạ cái mà nó cứ làm như nó ko =. Hóa ra đi thẳng của nó là cái hẻm xi măng ngay sát cạnh nhà bà nội tôi. Đi ngang qua mấy nhà, ko có người thì thôi, bất chợt gặp ai đó (mà thề với trời đất, chưa từng biết đó là ai) đều vồn vã: “Ớ, hai đứa ni, ra nhà bà à, về khi nào”. “Dạ, tụi cháu mới về”. “Lát nhớ ghé vô nhởn nhá!”. Toe toét cười, dạ dạ vâng vâng mà trong lòng đầy thắc mắc: “Ai thế nhỉ?”. Chỉ cố nhớ đặc điểm nhà có giàn hoa giấy trước cổng, vườn có hành hẹ mọc hoa lên rất đẹp để hỏi dì với Quân. Sau mới biết đó là nhà bác Đằng, thỉnh thoảng vẫn nghe mẹ nhắc từ cái thời rau cháo. Nhà dì đây rồi. Bụi tre ngay đầu cổng. Ao vịt sát bên. Bên kia là đồng ruộng bát ngát. Từ hướng đồng nhìn lại, có lẽ chỉ mỗi nhà dì ở giữa đồng thế này. Tôi nhảy lên tưng tưng để hít cái ko khí thoáng đãng, cái khung cảnh hiếm hoi chỉ bắt gặp từ cả chục năm trước. Ngồi trong gian nhà, vắt chân trên gối là một người đàn ông trung niên. Bá reo lên “Chú A” thì đc đáp lại “Ớ, chú A trong tê”. Tôi chưa quen lắm với kiểu cách này, hơi khựng lại nhưng Bá đỡ lời ngay: “Trời ơi, chú cứ làm như cháu ko biết đấy mà hù!”. Rõ là chú A, gương mặt của Khét ko lẫn vào đâu đc. Có lẽ Quân giống bên ngoại nhiều hơn. Chú hay tếu táo lắm, cái chức khá to trong họ (là ông của cả nửa làng) khiến chú đùa, lừa, châm chọc cả làng vô tư. Ai nhẹ dạ cả tin, “mắc lỡm” thì dù có tức anh ách cũng phải ngậm bồ hòn làm ngọt, ko hé răng đc gì. Dì với mấy đứa em ở trong chạy ra. Dì, tụi tôi gặp vài lần thì ko nói, còn lại đều là những đứa gương mặt thoáng chút lạ lẫm. Tất nhiên, hai người muốn gặp nhất vẫn là ông bà. Bà ngồi trong gian buồng nhỏ, rờ rẫm đầu tóc, tay chân hai đứa cháu lâu ngày ko gặp. Bà móm mém, tóc lơ thơ vài sợi bạc (vì quả thực trên đầu cũng chỉ còn những sợi ấy thôi) nhưng vẫn còn đẹp lắm. Nước da trắng mà mẹ đc thừa hưởng, gương mặt tròn mà Bá tự nhận là hao hao giống. Ông ngồi ở giường đối diện, chân vẫn nhịp nhịp như những ngày còn trong Nam. Miệng cười cười, mặt rạng rỡ. Có điều ông trông già và ốm đi nhiều. Lại để râu dài, vì ngoài này ko râu dài ko ra… lão. Tôi vẫn nhớ cái nốt ruồi thọ ở bên dưới tai phải của ông mà ngày trước tôi vẫn hay xoa xoa, những cái răng mà tôi vẫn lay cho ông mỗi khi nó sắp rụng. Trông vậy mà ông còn dẻo dai lắm, dì khoe Tết nào cũng đánh trống cho làng. Ông nghe nói, lôi ngay ra bộ phục trang đánh trống truyền thống mặc cho tôi và Bá xem đầy hào hứng. Chú A đặt vấn đề phân chia ngay: “Hai đứa ko thể ở cả bên đó đc, phải chia ra mỗi đứa một nhà chứ!” nhưng tôi và Bá nhất định ko chịu tách nhau, vì có phân chia cũng chẳng giải quyết đc gì, đứa nào cũng giành... ở bên này. Có lẽ bà nội cũng biết điều đó vì có thấy bà nói lẫy “Bên đó lắm thanh niên cùng tuổi, nhởn vui hơn bên ni”… Chú A vẫn nhất định chỉ cho tối nay thôi còn từ mai phải chia ra, tối đứa này ngủ ở đây một hôm, đứa kia ngủ ở kia một hôm rồi đảo lại. Sợ bà ko chịu, lại sợ ngủ một mình, buồn, chứ ý chú A có lẽ cũng hợp tình hợp lý. Bên nào cũng ko bỏ đc, bên tình-bên nghĩa. Nhớ năm mẹ về, cả mấy tuần liền đều túc trực bên nhà nội, đến hôm đi cũng chẳng ngủ đc với bà ngoại đêm nào vậy mà chẳng hiểu sao vào đây vẫn bị mang cái tiếng... bỏ bê bà. Như H thì ko nói làm gì, đến giờ bà vẫn còn nhắc nó bằng cái biệt danh “ông khách ở trọ” vì hầu như nó chỉ tạt qua chứ chẳng ngủ ở bên nội ngày nào.Chỉ kịp đi tham quan một vòng nhà. Vườn cây, trang trại vịt, đàn chó gườm gườm nhìn người lạ, con bò vô tư lự đang lấy mõm rứt rứt vài sợi ở gốc rơm ngay góc cổng, nhà bếp chất đầy rơm, khói um lên cay xè mắt… Thích cái mùi khói này. Cái mùi khói quê hương mà nhiều người ở TP thỉnh thoảng vẫn lãng đãng khi vô tình bắt gặp đc ở đâu đó. Về lại nhà nội, hẹn Quân và mấy đứa em tối nay nhớ ra rủ đi chơi Giao thừa, xem ko khí tết ở quê thế nào. Dì cũng bảo “Ừ, viền đấy đi, có chi mấy đứa em nó sang gọi, ko bà V lại bới bây chừ đấy!”. Nhà nội cũng bắt đầu khách khứa ra vô. Cô ở nhà dưới lên nói chuyện, những đứa em Trung, Tá hơm mà tôi vẫn nghe trong những câu chuyện của mẹ, của chị khi kể chuyện ở quê. Giấu biệt chuyện ra Hà Nội, ghé Thái Nguyên (vì ko muốn cả tết này ăn mắng), nhưng qua lộ trình ko khớp mà tôi với Bá vẫn bảo là… tàu trễ, bà có phần ướm dò: “Sao chừ mới viền tới, hay bay lại ghé nhà Bác bay ở Hà Nội rồi mới ra đấy? Để bà trông trông…”. Đi sắp xếp bánh trái cúng phụ bà. Cái ghế cao nhỏng bà leo thoăn thoắt lên làm tôi sợ phát khiếp. Cái điệu đi "nhanh hơn chạy" của bà, danh bất hư truyền đến giờ tôi mới đc tận mắt thấy. Sang nhà thờ họ cách đó mấy gian cúng vái tiếp. Nghe bà khấn ầm trời, giới thiệu 2 đứa cháu từ cái tông chi dài ngoẵng nào đấy về thăm quê. Ngồi ăn bữa cơm đầu tiên, có bánh chưng mà bác Thao (ở đây vẫn hay gọi thay con mình “chú, bác” cho oai chứ ông ấy chỉ hơn tôi 1 tuổi, lại anh họ nữa, cả làng đều là họ hàng) sang phụ bà gói, có miến, thịt ngan mà cô tôi “đặc biệt làm” đãi hai đứa cháu xa quê, có đồ xào cây nhà lá vườn, cả rượu Champagne mà chú tôi trong Nam gửi vào… Nhưng tôi chỉ ăn đc 1 miếng bánh chưng với đồ xào. Bá cắm cẳn từng cọng su hào nhai vì ko hợp khẩu vị. Ai bảo sao ăn ít thế, giữ eo (dù làm gì có eo mà giữ) rồi con gái thành phố ăn kiểng… cũng đành chịu. Hai chị em cứ đưa mắt nhìn nhau, đến tôi còn thấy Bá “ăn kiểng” huống gì người khác. Mấy người làng sang ngồi chơi, kể chuyện nhưng chỉ nói chuyện với bà là nhiều, hai đứa cháu đã chung vô mùng nằm đắp chăn. Thỉnh thoảng tôi và Bá nghe được những câu kể lể về sự chuẩn bị của bà, nào là nghe bay viền, sợ uống ko quen nước, bà phải kêu o mi (cô mày) chạy lên Thiều mua suối khoáng, nước ngọt. Nào là bác Thao phải sang quét dọn với bà mấy hôm… Tôi và Bá lơ mơ ko nghe hết, chỉ kịp dặn bà “Tụi cháu nằm nghỉ một lát tối bà kêu dậy đón Giao thừa nhé”, đợi nghe tiếng bà ừ rõ to rồi thiêm thiếp đi. Nhưng tôi quên mất ở đây là quê, nhà bà dường như quạnh vắng nhất trong làng, chỉ 8h là tối om om. Ko có lệ thức đón Giao thừa như trong Nam, ngoại trừ đám thanh niên đi chơi khuya. Cái mệt của cả chặng hành trình cộng với cái khí lạnh se se làm tôi và Bá đặt lưng xuống là ngủ ngay. Mặc cái chăn nặng trịch đang đắp đầy mùi ẩm mốc và gián, chuột tùm lum. Báo hại Quân với mấy đứa em bên nhà ngoại, tối hôm ấy khản cả giọng vì giả tiếng... cú với tắc kè để kêu hai chị dậy đi chơi. Năm đầu tiên và có lẽ cũng là duy nhất hai chị em ngủ thẳng cẳng trong đêm Giao thừa…

Wednesday, January 30, 2008

Quy hương ký - Phần 5 (30/1/2008)



PHỐ NÚI MÙA ĐÔNG

Không như ý nghĩ dậy sớm hít thở không khí trong lành ở ngoại thành Hà Nội của tôi, hai chị em mở mắt thì nắng đã kịp chín vàng trên sân. Cái man mát, lành lạnh chưa dứt của buổi sáng làm tôi và Bá vẫn không sao bỏ được cái áo khoác to cộp ra khỏi người. Lên xem đồ hong khô chưa. Cái sân thượng thấp chủm nhưng vẫn khiến lòng thoáng đãng lạ khi nhìn được bao quát toàn thôn. Nghe bác, mẹ bảo ở đây còn có thể thấy được máy bay lên xuống sân bay Nội Bài khi có chuyến. Ngó sang phải, một bụi mía xinh xinh. Ngó sang trái, thấy được rõ ràng ở nhà bên, những trái quýt da cam lấp ló sau tàn lá xanh mà thèm.
Chờ đợi, phụ làm cơm mà lòng vẫn nóng ran khi chưa thấy đại ca đến. Lẽ ra định ăn sáng xong là đi ngay cho sớm mà còn rề rà thế này. Nhà quê, thấy có khách đến mà không ra mâm ra đũa hay con gà, con vịt là không được. Vả lại có nóng lòng cũng không xong vì đi đâu chúng tôi cũng phải đợi rước ông nội “sui gia” về chào một cái rồi mới đi được.
Ông về, gần như cùng lúc với đại ca. Thấy Quân tay bắt mặt mừng, ôm hôn thắm thiết một chị gái mà tôi với Bá cứ ngẩn tò te. Ra đây là chị Liên, em gái anh Minh. Theo sau còn là bé Uyên, 9 tuổi, nó gọi tôi là dì. Ông sui gia đã lão lắm rồi. Người teo tóp lại, có điều dường minh mẫn hơn mấy ngày qua được một chút, có thể nhận ra tôi và Bá để hỏi. Ông không ăn được gì, chỉ toàn truyền dịch và uống sữa, đạm chuyên trị. Ông về nên nhà đông đúc hẳn lên, nào là cán bộ ở xã, nào là hàng xóm, thân thích nội ngoại… Ở đây vẫn có lệ chiếu trên chiếu dưới. Đàn ông con trai mới được ngồi chiếu trên ở phòng khách chung với các cụ. Chúng tôi khách ở xa được miễn lệ, ngồi chung nhưng cả đám cũng chẳng thích cái không khí sặc mùi rượu này, tót lên gác ngồi với chị Liên và bé Uyên cho vui. Mấy dì cháu kịp làm quen với nhau, Uyên còn lanh lẹ dắt tôi và Bá ra một nhà trong thôn mua mía. Một đống mía đổ dài, thích cây nào thì chặt cây ấy nhưng xưa nay tôi và Bá có biết lựa chọn những thứ này bao giờ, đành để Uyên ưng cây nào lấy cây đó vậy. Cây mía to, dài, cả nhà nhai mỏi răng, chỉ có hai nghìn đồng mà con bé thích mê, thấy nó háo hức lại chột dạ nhớ đến mình ngày bé.
Chụp ảnh lưu niệm. Làm như lâu rồi các ông bà ở đây không được chụp ảnh nên mọi người vui lắm. Không hiểu sao trong lúc chụp cho ông sui gia, nhìn cảnh bố con, cháu chắt quây quần bên ông, tôi cứ có ý nghĩ, có thể đây là những bức ảnh sau cùng của ông… (linh cảm này rất ứng nghiệm. Ông mất hơn 3 tháng sau đó, đúng vào dịp chị Xuyên cưới trong Nam...). Tôi cũng chụp được cho bác Thịnh, mẹ Oai một tấm hình riêng của hai người. Ngày cưới, bác mẹ cũng không có ảnh, nếu chúng tôi không chụp thì không biết đến bao giờ bác mẹ mới có tấm hình riêng với nhau. Trong khoảnh khắc cả bác mẹ cùng mỉm cười, hình ảnh bác Trung lướt vèo qua. Dù có thua kém mọi bề, dù đám cưới không có lễ hậu cho nhà gái thì bác Thịnh cũng là người mà mẹ Oai tôi đã chọn và sống với nhau mấy chục năm trời. Không phải là một bác Trung tốt hoàn hảo. Đó mới là thực tế!

Sắp xếp quần áo xong, chúng tôi chào tạm biệt mọi người lên đường. Uyên ở lại chơi với ông bà ngoại, nó đã kịp nhớ tên của hai dì. Ba xe nhưng chỉ có hai người lái: anh Minh và chị Liên. Một xe trống để chở đồ. Quân không biết chạy, tôi thì lơ mơ nên đành phó mặc cho Bá. Cuối cùng đội hình xuất phát: Tôi với Bá một xe, chị Liên chở Quân và đồ đạc tất nhiên anh Minh chịu trách nhiệm. Đoạn đường từ đây lên Thái Nguyên không phải ngắn, ít ra xẩm chiều chúng tôi mới đến nơi được.
Chỉ một đường thẳng nên cũng dễ đi. Gió ù ù thổi theo tốc độ xe chạy hơn 45 km/h. Trời hửng nắng mà vẫn rét đến lạ. Dù đã trùm hết mọi thứ và ôm một đống đồ đạc trong người, tôi vẫn cứ co ro. “Thở ra khói rồi này!”
- Đó, xem mấy phim Hàn Quốc cứ thích trời có nắng mà vẫn thở ra khói, giờ thì được nếm mùi rồi, thích chưa!
Tôi và Bá nói chuyện trong cái giọng run run, tiếng lập cập của hai hàm răng đôi khi va vào nhau và tiếng rên hừ hừ không biết của đứa nào…

***
Qua trạm thu phí Thái Nguyên, chừng hơn một giờ tôi co ro nép mình sau lưng Bá thì đến chợ Vĩnh Phúc. Rẽ vào một con đường toàn đá lổm nhổm. Chạy xe mà cứ như đang ngồi trên lưng ngựa. Bụi bay mù trời, mà có phải do xe nào khác ngoài xe của chị Liên chạy phía trước đâu. Chị Liên quen đường nên phóng như bay, Bá hai tay nắm chặt tay lái cho khỏi bị hất văng ra vì đường dằn xóc. Tôi ôm Bá khư khư nhưng cũng kịp nhìn được quang cảnh Thái Nguyên. Hai bên là ruộng rau, đồng lúa. Là màu xanh mướt ngút ngàn. Là cảnh núi đồi hùng vĩ. Là những con nước tĩnh lặng phía xa xa. Xóm Gốc Nhội hiện ra khi qua một cái đập nước. Vẫn nhớ chị Xuyên kể ngày trước mỗi lần nước lớn qua khỏi đập là cả khu thành sông, suốt ngày ru rú trong nhà chẳng đi đâu được. Trái cây, củ quả chín đầy nhà đành để úng vì ăn không kịp mà không thể đem đi bán…
Qua những con hẻm ngoặt ngoèo với những bụi tre, rừng cây rậm rạp cuối cùng cũng vào được nhà chị Liên. Trong lúc Bá xoa đôi bàn tay đỏ rần, thì tôi đã kịp đem đồ vào nhà và nhảy lên thích thú với vườn vải, ruộng bắp của nhà chị Liên. Ngôi nhà gạch đặc trưng miền Bắc nhưng cũng không khác gì lắm nhà trong Nam hiện nay. Anh Thuận, chồng chị Liên thấp người, da đậm màu của dân trong vùng, niềm nở đón những cô em họ vợ lần đầu mới gặp. Tôi và Bá tắm qua loa. Nói là tắm cho oai chứ chẳng đứa nào có cái gan ngâm mình trong nước lúc này. Trời rét, gió lùa, cởi áo khoác ra thôi đã thấy răng muốn đập vào nhau. Nước lạnh như nước đá mà chẳng thể chờ đun nước sôi. Dội hai gáo nước mà tưởng tim mình muốn ngừng đập. Vả lại, còn bao nhiêu điều thích thú đang chờ chúng tôi ngoài kia.
Đi vòng quanh xem vườn rau, gốc táo, bầy gà. Xem mấy chục gốc vải mà vẫn hằng tưởng tượng lúc rộ mùa. Cây vải thâm thấp, vừa tầm con nít leo chứ không to như tôi vẫn nghĩ. Độ này, vải chỉ mới lú nhú vài nụ hoa. Anh chị bảo về hè thì tha hồ mà ăn vải, hái vải, có điều hè ở đây gió Lào thổi qua, nóng kinh khiếp. Cháy da cháy thịt. Nghe thế là niềm háo hức được xem hơn 60 gốc vải lủng liểng trái trong tôi
xụi lơ hết tám, chín phần. Nhà ở đây thưa thớt, mỗi người “hùng cứ” một phương. Đứng ở sân nhìn bốn phía trong tầm mắt cũng chỉ là địa phận của một nhà, cùng lắm len được sang vườn nhà người khác chứ chẳng thấy nhà cửa đâu sất.
Nồi bắp luộc vừa chín tới. Chẳng biết sao anh chị lại hiểu ý cả ba đứa đến thế! Bắp già, không ngọt vị ngọt của đường như chúng tôi vẫn ăn ở Thành phố nhưng có vị ngọt của cây nhà lá vườn, của bắp vừa mới bẻ. Gặm bắp mỏi răng. Nói chuyện được với anh Thuận thêm vài câu bên ấm chè, đủ để quen tên nhau, chúng tôi nhanh chóng được hai đứa cháu dẫn ra ruộng bẻ bắp cho thỏa tính hiếu kỳ. Ruộng bắp ngay trước nhà, trái nào trái nấy to đùng nhưng chị Liên bảo cuối mùa rồi nên hơi già. Thằng bé Dương độ chừng 9 tuổi, ôm thúng, lon ton dẫn các cậu dì ra, chỉ cách bẻ bắp như thế nào. Có cái việc bẻ bắp thôi, thấy nó làm thoăn thoắt mà mình vặn cũng lắm nhiêu khê. Được tự tay bẻ bắp, thích quá nên tôi và Bá xếp đầy cả thúng. Cái mắt to hơn cái mồm. Mấy cậu-dì-cháu còn dí nhau giỡn 1 lúc nữa mới vào nhà. Ruộng bắp không đến nỗi rộng lắm nhưng quay đi quay lại 1 tí cũng đủ lạc nhau.
Tiếp theo là đến nhà anh Oanh. Anh Oanh là con cả của mẹ Oai. Ngày cưới, anh ấy cũng có gửi ảnh vào nhưng cái ảnh hồi ấy chỉ là một thằng nhóc non choẹt, giờ đã là người đàn ông trụ cột của gia đình nhỏ – 4 người. Anh Oanh đúng kiểu người chất phác, xuề xòa, hay lam hay làm. Chị Năm khá xinh, so trên mặt bằng của vùng nửa đồng bằng, nửa trung du trên này. Thằng bé Vương mới 4 tuổi, mặt mày lem luốc nhưng được cái hay cười, lại cười rất tươi. Bé Hoàng trạc tuổi Dương, mặt sáng sủa. Mọi người vẫn nhắc chuyện mới đây nó đi chăn bò, mải chơi thế nào để bò đi lạc, sợ đến nỗi không dám về nhà…
Anh Minh đang quét tước lại nhà cửa, sân vườn. Nồi bánh chưng còn chờ, trâu bò cần người trông. Mẹ Oai, bác Thịnh lên Hà Nội chăm ông nên anh Minh phải về coi sóc việc nhà cửa của hai cụ. Góc nhà nhỏ xinh xinh. Cổ hơn nhà của hai anh chị kia là lẽ đương nhiên. Nửa gạch, nửa gỗ. Cái xe công nông để trong sân. Cây cau trước cổng, cây khế xum xuê trái sau nhà, nhìn thích mắt nhưng mỗi điều nó chua lè chua lét nên chẳng ai buồn ăn. Để đến được chỗ anh Minh, phải vượt qua một đoạn suối mà ai không quen rất dễ té nhào. Vậy mà chị Liên vẫn cho xe qua được. Đoạn suối không lớn lắm, nhưng lội qua cũng đủ ướt hết chân. Mùa lũ thì đừng hòng qua lại. Gác xép phía trên nhà anh Minh là bao tải lớn vải khô, thứ thỉnh thoảng mẹ Oai vẫn gửi vào làm quà mỗi lần có dịp. Thứ này thì chỉ mỗi nhà mẹ Oai còn.
Sáu anh em, dì cháu ra xemvườn chè. Vườn chè bạt ngàn mà mẹ vẫn kể trong những câu chuyện ngày xưa, thời mẹ chưa cưới thỉnh thoảng vẫn lên thăm, hái giúp mẹ Oai. Leo cây chụp hình, Quân còn giỡn với cả con bò anh Minh vênh bên đồi cho nó ăn cỏ. Vượt qua con suối to với bãi sỏi rộng lớn, nước trong veo nhìn được cả cua cá, chúng tôi đến khu đồi mấy anh chị mới tậu. Anh Minh bảo bên kia suối là khu vực của người dân tộc, Tày, Thái gì đấy, thi thoảng vẫn gùi đồ đi ngang. Một quả đồi to, đầy cây tràm cừ. Men theo lối nhỏ leo lên.
Thằng bé Vương 4 tuổi thoăn thoắt leo lên, chạy xuống ngọn đồi cao mười mấy mét làm tôi và Bá phát khiếp. Tôi cũng có chút kinh nghiệm leo trèo nhưng Bá thì suýt té lăn quay nếu không có một nhánh cây đỡ lại. Cuối cùng cả mấy anh em dừng chân bên kè đá lưng chừng đồi, vì “Leo lên đến đỉnh chắc tối mất!”. Trời đã bắt đầu nhập nhoạng, vùng rừng núi trời tối rất mau, dù mới chưa đến 5 giờ chiều. Mặt trời xuống đỏ kè một bên suối làm suối có ráng vàng đến là đẹp. Biết làm sao đem dòng suối yên tĩnh này vào Sài Gòn? Còn thơ thẩn nói chuyện bên dòng suối một lúc mới “kéo quân” về nhà chị Liên.
Chị Năm, anh Oanh cũng tập trung qua phụ bếp núc. Mấy anh em lần đầu gặp nhau nhưng không hề có một chút cảm giác xa lạ gì! Anh đèn điện lờ mờ. Anh lửa bập bùng, loi choi. Tiếng chó sủa râm ran. Tiếng côn trùng kêu rỉ rả. Bên ngoài là màn đêm đen kịt, chỉ gió lạnh và cây xào xạc. Đã biết thế nào là đêm không trông thấy rõ mặt người, có ai ngồi ngay cạnh mình cũng không biết - như mẹ vẫn tả. Cánh đàn ông uống rượu, cánh phụ nữ uống nước ngọt, nước trà. Lúc nào mình và Bá cũng được quan tâm. Hỏi han chuyện trong Nam ngoài Bắc, chuyện về quê…
Trong cuộc vui của cánh đàn ông, Quân cũng nâng chén. Nó uống vài ly đã ngà ngà. Tôi và Bá nhìn nó ra hiệu thôi uống, nó vẫn khẳng khái lý sự chưa bao giờ nó uống vì bố nó mà biết là “quýnh chết”, chỉ vì lần này anh em lâu ngày gặp nhau, không biết bao giờ mới lại có dịp như vậy, vui nên uống thôi. Nó bắt đầu nói những thứ chỉ có rượu mới cạy miệng nổi. Nó nhận xét về chị em tôi, về tôi. Chưa bao giờ nghĩ nó lại suy nghĩ chững chạc như vậy. Ở đây, lúc đi ra ngoài, nó đã không còn là đứa vẫn hay đùa giỡn, chọc phá tôi lóc chóc như ở nhà.
Ai cũng giữ chúng tôi lại nốt ngày mai, chờ vợ chồng chị Xuyên về luôn thể. Cả đám cũng không nỡ rời, cũng muốn đi chơi thêm nữa nhưng lộ trình đã vạch ra sẵn. Mọi người ở quê đang chờ từng ngày, không thể nấn ná được. Tàn bữa, cánh phụ nữ dọn dẹp rồi cho con cái về nhà đi ngủ. Cánh đàn ông lăn quay ra ngủ trong buồng. Chỉ còn vài giờ nữa, chúng tôi lại phải khởi hành, chia tay. Phần vì không muốn ngủ, phần vì có cái phòng duy nhất đủ ấm áp thì Quân đã lăn quay ra cùng mấy đứa cháu, không còn chỗ để chen vào nên tôi và Bá ra trò chuyện cùng anh Minh bên bếp lửa đang đun nước. Lửa tí tách loại củi bằng thân cây sắn mà trong Nam vẫn hay gọi là khoai mì. Khẽ co ro, xuýt xoa mỗi khi gió lạnh lùa vào. Sương buông trên đầu. Càng về sáng càng thấm cái lạnh phố núi. Anh Minh có vẻ uống ít nên còn tỉnh táo. Tâm sự chuyện nhà cửa, gia đình. Ước muốn nhiều nhưng có những việc anh ấy không thể tự mình quyết định. Anh ấy là con trai út, là người sau cùng chưa thành gia lập thất nên vẫn còn nặng nợ chuyện hương khói tổ tiên, chăm lo hai bác.
Bá vào ngủ trước, tôi và anh Minh còn nói chuyện tiếp cho đến khi vào đánh thức Quân dậy để chuẩn bị đồ đạc. Chị Liên không ai gọi cũng tỉnh như sáo lo cơm nước cho mấy đứa em. Mới hơn 3 giờ sáng. Trời vẫn tối om om. Hầu như ai cũng chợp mắt được có tí rồi tỉnh hẳn. Anh Thuận dậy chia tay, chia chân. Những cái bắt tay, lời chúc. Hẹn nhau mùng 6 cho mấy đứa cháu về quê mừng thượng thọ ông.
Quyến luyến chẳng nỡ rời. Thấy lòng mình cứ ngùi ngùi một nỗi niềm khó tả. Nhớ cái giọng ngọng líu của bé Vương khi gọi hai dì mà thương.
Anh Minh, anh Oanh và chị Liên chở ba đứa ra tỉnh lộ phía ngoài. Vẫn còn đường đá lổm nhổm lúc chiều mới chạy vô. Con đường bé tẹo, quanh co. Tối thui không một bóng đèn. Hai bên là ruộng mà chỉ những người quen đường mới không xỉa xuống. Một chị phụ nữ (tôi đoán vậy) lóc cóc đạp xe đi chợ sớm. Đúng là chỉ có quen mới dám đi vào lúc này, giờ này, con đường này. Anh Minh chỉ cho xem nhà mẹ vợ anh Oanh, mẹ chồng chị Liên mà nào có thấy được gì. Trời lạnh đến độ dù ngồi sau, hai chân cứ lập cập va vào chân người ngồi trước. Anh đèn ngoài đại lộ lờ nhờ, đủ để nhận ra đây cũng là một vùng đang phát triển. Tôi ôm chị Liên trong hai lớp áo khoác dày cộp mà vẫn phải nhảy loi choi lên cho đỡ lạnh. Miệng người nào người nấy thở phà ra khói.
Vợ chồng chị Xuyên đã đến ga nhưng không kịp gặp. Tiễn chúng tôi xong anh Minh lại chạy ngay lên Hà Nội để đón và lo liệu vài chuyện bên nhà ông. Xe về thẳng Thanh Hóa trên con đường này chỉ có một tuyến duy nhất vào một giờ duy nhất: 4 giờ 30 sáng. Trời lạnh mà chờ mãi, chờ mãi mới thấy nó qua. Chào tạm biệt lần sau cùng, thấy tụi tôi lên xe khuất hẳn, ba anh chị ấy mới yên tâm quay đi…

Phần 1
Phần 2
Phần 3
Phần 4

Tuesday, January 29, 2008

Quy hương ký - Phần 4



Cứ mỗi dịp gần Tết lại nhớ, lại nhắc mãi về những kỷ niệm, những câu chuyện ngày ra Bắc. Mới nhớ ra "Quy hương ký". Sẽ post hết trước khi đi...


Phần 1
Phần 2
Phần 3

Đường về ngang qua huyện Đông Anh. Tôi không nghĩ được là xe buýt cũng chịu chạy trên những tuyến đường đất bề ngang chỉ độ chừng một mét như thế này. Ngồi trong xe vẫn thấy được từng đám bụi cuộn lên theo mỗi bước nhảy cóc của bánh xe buýt. Những đoạn đường khá hơn mới thấy được đúng chất thôn quê tôi cần tìm. Những trại cá giống, những ao nước, ruộng rau, những vườn đào, quất xen kẽ làm mát mắt cả chặng đường khiến tôi chẳng thể rời mắt nổi. Lần đầu tiên được thấy hoa đào thật, be bé xinh xinh và những cây quất lủng liểng trái vàng ruộm. Quất ở đây rõ ràng to hơn trái tắc trong Sài Gòn nhiều.

Bá vẫn đang ngủ gục ở ghế phía trên. Hai chị em không có ghế gần cạnh nhau để ngồi, tôi quen đứng rồi thì không nói làm gì, xưa giờ ở thành phố, Bá có đi xe buýt lần nào đâu. Sắp đến trạm, tôi gọi Bá dậy, không quên quả bưởi đẹp mắt mua về làm quà. Bưu điện Phủ Lỗ đây rồi. Xe dừng thả chúng tôi xuống trạm rồi tiếp tục chạy thẳng về Tam Đa. Chấm dứt những khoảnh khắc lo lo khi ngồi trên xe buýt mà bảng chỉ dẫn đường đi hướng mũi tên về những địa danh lạ hoắc như sân bay Nội Bài, đồi Sao Vàng… cứ vèo vèo lướt ngang qua. Kịp nhìn thấy những tấm bảng hiệu bên đường để biết mình đang ở huyện Sóc Sơn, nơi nổi tiếng với tích về một chàng Phù Đổng.
Bá có vẻ đã khỏe hơn. Vào bưu điện gọi điện thoại cho chú Dung như lời đại ca dặn lúc chia tay ở trước ga. Nghe giọng tôi là chú Dung nhận ra ngay, chẳng phải vì thân quen gì mà vì cái giọng lạ đặc trưng chỉ có ở miền Nam. Hai chị em không biết chú Dung là ai, bao nhiêu tuổi chứ đừng nói gì đến chuyện nhận ra nhau. Chấp nhận một thực tế là người đi đón và khách được đón chẳng ai có thể nhận ra ai ngoài linh cảm và đoán đại. Chẳng thế mà tôi và Bá đã tần ngần mãi trước một người đàn ông vừa trờ đến, quay trước ngó sau như tìm người, nhưng rồi trước khi chúng tôi kịp hỏi, ông ấy đã phóng vù đi. Giật mình khi không phải chỉ có một người như vậy, không lý giải được tại sao thời điểm này lại có nhiều người đàn ông dừng lại ngó quanh quất tìm người đến thế. Đôi khi sáu mắt nhìn nhau, đôi khi ngờ ngợ định đến hỏi nhưng rồi kịp phát hiện ra đó không phải là chú Dung. Cho đến khi một người mấp mé tuổi trung niên phóng xe đến trước mặt và hỏi “Hai cháu có phải là con…”. “Dạ phải!”, mừng quá, chú Dung đây rồi.


Thắc thỏm khi chú thản nhiên… tống ba nhưng chú nhanh chóng gạt bỏ lo lắng ấy của tôi khi bảo qua bên kia đường vào ngã rẽ là đến nhà rồi. Con đường đất be bé, hai bên đều là vườn đào chạy dài ngút mắt với những gốc đào be bé, xương xương và những nụ hoa đã chúm chím hồng. Cái cổng đê đặc trưng của làng quê Bắc Bộ làm tôi cứ ngoái đầu nhìn mãi. Đã thấy gió mát trở lại, dù đang là giữa trưa. Con đường lát đan bé dần, quanh co sau vài cái ngoặt trái phải và cuối cùng dừng lại trước một cánh cổng gỗ cũng be bé nốt. Hai chị em bước xuống, ngó quanh. Chú Dung đã quay đầu xe chạy mất, chỉ kịp nghe chú ấy bảo “Thôi, chú về trước nhé!”.

Ngôi nhà tường chính diện, phía trái là một khu đất trống trông như một cái vườn nho nhỏ, có thể đặt một cái chuồng gia cầm hay bắc bếp nấu nướng. Bên phải là một lối đi nhỏ đi thẳng vào khu bếp, gắn liền với sân. Một người phụ nữ trung niên ngoảnh ra. Mái tóc búi cao loe hoe những sợi bạc, gương mặt xương xương, gò má, đôi môi và nhất là nụ cười đặc trưng, nụ cười của mẹ. Thế nên, dù chưa từng gặp mặt trước đó bao giờ, chúng tôi vẫn có thể nhận ra ngay: Mẹ Oai. Quê tôi có tục gọi chị gái của mẹ mình cũng là mẹ nhưng có tên đi kèm sau. Từ bé, mẹ đã tập cho tụi tôi cách gọi này qua những câu chuyện kể nên giờ chẳng thấy ngượng miệng khi thốt thành lời. Mà có lẽ những người ruột rà máu mủ, dù có xa cách đến thế nào đi nữa cũng có một mối dây thân thiết nhanh chóng đến kỳ lạ. Mẹ Oai ôm hai đứa, vuốt tóc, vỗ vai khen lớn, chẳng thể nhận ra nổi rồi bảo hai đứa lên phòng cất đồ, nghỉ ngơi.

Có dịp để ngắm kỹ mẹ Oai hơn, vóc dáng cao ráo, thon thả, sống mũi cao được thừa hưởng từ ông, làn da trắng (dù bây giờ đã lốm đốm đồi mồi) được thừa hưởng từ bà ngoại… Tất cả đều phảng phất nét thanh tú của một hoa khôi làng thời còn con gái. Mẹ tôi vẫn tự hào ngày xưa mẹ Oai xinh nhất làng, bao nhiêu trai làng trót phải lòng, bao nhiêu đám tốt cứ dòm ngó, lôi kéo. Ay vậy mà rồi cả làng phải ngẩn ngơ khi mẹ Oai quyết định xây dựng gia đình ở một nông trường khỉ ho cò gáy, với một người “thường thường bậc trung” mọi mặt.

Tôi vẫn ấn tượng câu chuyện về bác Trung, người mẹ Oai đã từng tự nguyện đính ước trước khi theo ông lên nông trường ở Thái Nguyên. Phải là người xứng đáng thế nào mới có thể khiến trai làng thời ấy cam tâm, tình nguyện rút lui trong “cuộc chiến” giành hoa khôi làng nhanh đến vậy. Bác Trung, theo lời mẹ tôi kể là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, học hành khá nhất nhì làng lúc ấy, lại luôn đối xử tốt với mẹ Oai lẫn gia đình vợ tương lai. Đặc biệt, bác rất mực cưng chiều em gái vợ tương lai (tức mẹ tôi), làm gì cũng nhờ tư vấn, đi đâu về cũng có quà. Chả thế mà bao nhiêu người cứ dụ dỗ, biếu xén quà bánh cố lấy lòng cô em để dòm ngó cô chị nhưng mẹ tôi vẫn quấn quýt với mỗi “anh Trung”.

Ngặt một nỗi, b
ác Trung lại nhập ngũ, làm việc trong quân đội nên thời gian ở nhà không nhiều. Yêu thương, quan tâm với mẹ Oai chỉ còn là những lá thư đều đặn thăm hỏi, động viên… Quyết định gì, bác Trung cũng suy nghĩ cho tương lai, hạnh phúc của mẹ Oai. Ngay cả khi mẹ Oai có ý định theo ông lên nông trường làm việc, biết thay đổi môi trường có thể làm mẹ Oai tôi thay đổi, bác Trung cũng không mảy may ngăn cản. Ngay cả khi mẹ Oai xao lãng dần tình cảm với bác Trung do sự chăm nom của người ngay bên cạnh, để rồi nói lời chia tay bác Trung và đi lấy chồng thì bác ấy cũng không hề oán giận.
Thập niên 60 của thế kỷ 20, cái thời mà người ta vẫn coi trọng đính ước của cha mẹ hai bên chứ đừng nói có sự đồng thuận của cả người con gái, chỉ cần hôn ước không thành thì ba bảy sáu cơn gì hai nhà cũng không thể “đội trời chung” được nữa huống gì một bên tự hủy ước trước. Vậy mà bác Trung lại viết thư về cho ông bà ngoại tôi để thủ thỉ: “Con với em Oai có duyên mà không có phận. Giờ con ở xa, cũng chẳng chăm lo được cho em Oai và gia đình. Em Oai đã ưng thuận ai thì bố mẹ cứ để cho em ấy xây dựng hạnh phúc với người đó, đừng ngăn cản, trách mắng làm gì mà tội…”.


Ngày ấy, ông bà ngoại tôi giận mẹ Oai lắm nhưng cũng nhờ bức thư ấy mà ông bà đành phó mặc lựa chọn của cô con gái ương bướng. Đám cưới mẹ Oai diễn ra trên Hà Nội đơn giản đến mức có thể, ông bà ngoại lẫn mẹ và dì tôi đều không thể có mặt để chúc mừng. Bác Trung sau đấy ngày càng thăng tiến trong sự nghiệp, trở thành một nhân vật có địa vị trong ngành. Thỉnh thoảng, bác vẫn còn đến nhà thăm ông bà ngoại tôi. Ngay cả khi lập gia đình rồi có con, vẫn dắt “thằng cháu” xuống chơi, vẫn gọi ông bà ngoại tôi hai tiếng “bố mẹ” như ngày nào…

Đến tôi nghe chuyện mà còn… tiếc. Thử hỏi tìm đâu được mấy người như bác Trung giữa nhân gian này?


Quân từ đâu đã đứng ngay sau mẹ Oai làm tôi thoát khỏi dòng suy nghĩ miên man đột ngột. Trên tay nó là một cái nồi cỡ trung với những dải thịt heo to tướng. Nó gườm gườm nhìn tôi và Bá rồi đặt nồi thịt xuống thành bếp, theo chân hai chúng tôi lên phòng với danh nghĩa: “Để con xách đồ, chỉ phòng cho hai chị ấy nhá mẹ”. Bước lên từng bậc cầu thang lạnh ngắt. Giường, nệm sờ vào chẳng khác gì cục nước đá. Ngồi một tí cho ấm chỗ. Quân giờ mới giở giọng vừa đay nghiến vừa ra vẻ phụng phịu làm tôi và Bá cũng ngơ ngác không biết gì:
- Hai chị nhớ nhá, đi chơi Hà Nội một mình mà không cho tôi theo. Nhớ lấy nhá…
- Một mình đâu, hai mình đàng hoàng nha…
- Ơ hay nhỉ, tụi tao tưởng mày không thích đi chơi nên mới về cùng đại ca. Sao lúc ấy không để đại ca đem đồ về rồi đi với tụi tao luôn còn nói – tôi và Bá thi nhau biện minh mà cũng không ngờ là nó giận thật.
- Lúc ấy tôi mà không về cùng anh Minh thì đời nào anh ấy để hai chị đi chơi. Hai chị nhớ lấy, không thèm chơi với hai chị nữa…

Nói rồi nó đi xuống nhà vì mẹ Oai đã gọi cái gì đó. Tôi và Bá lo tắm rửa. Mẹ Oai biết ý đã sai Quân bắc bếp nấu nước cho hai chị tắm. Nó phụng phịu “Sao mẹ cưng hai chị ấy thế” mẹ Oai gạt ngay “Gờm, cái thằng này, hai chị mới đi về mệt…” làm tôi thích chí. Nhà tắm và nhà bếp thông nhau bằng một lối đi nhỏ độ chừng nửa mét. Ngăn giữa bếp và sân là cánh cửa gỗ, khép lại cũng kín chán. Chưa kịp yên tâm thì cả hai chị em phát hiện ra cái cửa sổ bằng lưới ở sát bên cánh cửa gỗ ấy, có lẽ là để cho bếp được thông thoáng. Khổ nỗi từ ngoài nhìn qua cửa sổ vào bếp vô đến tận phòng tắm lại thông thống, chẳng có rào cản nào. Chưa từng thấy lối kiến trúc nào như vậy trước đó, tôi và Bá đành nhăn răng nhập gia tùy tục. Người tắm vội, người nhẩn nhơ đứng ngay cửa sổ dòm đất trời.

Anh Minh đã về Thái Nguyên để lo liệu tết nhất trên ấy. Các anh chị khác cũng không ghé về. Đây là nhà bố Bác Thịnh, chồng mẹ Oai. Cái tục ở quê tôi cũng lạ, tôi gọi mẹ Oai nhưng không gọi bố Thịnh mà vẫn cứ bác Thịnh như thường. Lẽ ra chúng tôi về thẳng Thái Nguyên nhưng vì bác mẹ phải ra đây chăm sóc ông ốm nên tiện đường chúng tôi ghé qua đây để chào hỏi, nghỉ ngơi trước khi lên đường. Bữa cơm đầu tiên mừng ngày đầu gặp mặt đều do Quân trổ tài, mẹ Oai chỉ cung cấp nguyên liệu. Có rượu, có thịt. Đưa cho hai chị em ly rượu vải, đặc sản ở nhà làm, Bác Thịnh khề khà “Uống đi, tốt cho tiêu hóa lắm đấy!”.
Bác Thịnh quả không được điển trai, tầm vóc trung trung, dong dỏng cao, gương mặt xương xương với hàm răng lung lay và xỉn màu vì thuốc lào. Trông bác đứng tuổi hơn mẹ Oai tôi nhiều, dù ở thời điểm hai ông bà đã có cháu nội ngoại. Mẹ tôi vẫn hay nửa đùa nửa thật bảo “Nhắc lại chuyện xưa cũng chẳng để làm gì, nói cam tội chẳng hiểu được chị ấy ưng anh Thịnh ở điểm nào. Đẹp trai không, giàu có không, chiều vợ không, làm lụng bình thường, mà cả cái khoản đối xử với ông bà cũng chẳng bằng được anh Trung. Người xưa nói quả không sai, nhất cự ly”.

Bá nghe rượu vải tưởng như nước ép trái cây, đưa ly lên ngang mũi là nhăn mặt không chịu được. Tôi được khuyến khích là tốt cho tiêu hóa nên cũng tranh thủ nhấp một ngụm, không thấy cay xè như người ta vẫn tả về rượu, chỉ cảm nhận một vị đắng nghét rồi thôi. Đang ăn thì có vài vị khách trong xóm ghé qua, giới thiệu họ hàng ở xa về chơi. Mâm cơm xuất hiện thêm đôi đũa cái chén. Lâu rồi mới lại thấy cái cảnh này.

Trái bưởi xinh đẹp Bá cất công đem về từ Hà Nội được dịp bổ ra để mời ông sui gia sau bữa cơm nhưng trái với háo hức của hai chị em, bên trong lớp vỏ đẹp đẽ xinh xắn kia chỉ toàn cùi, cùi và một vài múi bưởi khô khốc, quắt queo chẳng ăn được một tép. Mẹ Oai an ủi “Thôi ông cũng không thích bưởi lắm đ
âu” còn Quân được dịp hể hả: “Bưởi này chắc người ta để cũng cả tháng rồi. Bà ấy hẳn cười như nghé khi vớ được hai chị. Chỉ được cái hám đồ đẹp. Chừa cái tật không cho tôi đi cùng đi nhé!”.


Mệt mỏi sau chặng đường đi bộ giờ mới ngấm, hai chị em leo lên giường, kéo cái chăn vừa nặng vừa lạnh như nước đá lên đắp cho qua cái co ro. Đánh một giấc đến chiều, lúc tỉnh lại mới sực nhớ thau đồ dơ còn chưa giải quyết. Ai dè, Quân đã “đảm đang”… giặt giùm dưới chỉ thị của mẹ Oai. Những bộ đồ đã giăng trên ban công tầng trên, hi vọng đến sáng mai kịp khô để về Thái Nguyên. Thầm biết ơn nó, cũng biết tính nó rồi nên chúng tôi chỉ giả vờ lườm khi nó móc mỉa “Đợi hai chị có mà đồ thối mất!”. Chúng tôi vẫn khen nó tháo vát thế mai mốt vợ được nhờ. Trời chiều, gió ngày càng se sắt hơn. Lúc nào hai chị em cũng khoác áo to sù sụ. Không khí này thì ngồi bên bếp lửa là hay nhất. Bếp lửa rơm đặt phía ngoài cái góc vườn bên góc trái của sân lúc đi vào. Có một cái chuồng gà nho nhỏ đã “bỏ hoang” từ lâu. Vài con mèo đang nằm cuộn mình sưởi ấm. Bên trên bếp là ấm nước đang reo. Ngồi cạnh Quân, hít cái mùi rơm, mùi khói của làng quê, yên bình và thoải mái đến lạ. Đôi lúc hơi cay cay mắt, lấy tay làm quạt cho khói bay về hướng khác.
Quân vẫn làu bàu ra vẻ ấm ức lắm vì chuyện bị tụi tôi “bỏ rơi” để đi chơi Hà Nội một mình. Đã vậy, mẹ Oai cưng hai cô cháu gái xưa giờ chưa gặp, cái gì cũng sai Quân làm nên nó càng có cớ để bực. Ngay cả nồi thịt chiên để chuẩn bị gói bánh chưng cũng không thoát khỏi tay nó. Quân bảo tôi: “Chị chiên thịt cho mẹ Oai kìa!” nhưng tôi lè lưỡi chọc bảo “Chị cũng muốn làm lắm ấy chứ, khổ nỗi mẹ Oai có tin tưởng giao cho đâu…”. Vả lại nói thế thôi chứ Quân cũng thừa biết tôi làm gì trở tay kịp với bếp lửa rơm như nó, khéo lại hỏng hết thịt lại khổ. Biết thế nên tôi cũng ngồi cạnh xem nó chiên thịt cho nó đỡ tủi. Nhóc này người lớn lúc nào chứ ba cái vụ ganh tỵ, tủi thân thì tôi rành quá rồi!


Càng về tối trời càng lạnh dần. An xong, bác Thịnh cũng đi nghỉ sớm để mai vào viện chăm ông. Nhà thắp điện tù mù. Ba chị em theo chân mẹ Oai ra ngoài, mẹ bảo đi mua hàng, sẵn ghé sang vài nhà chơi cho biết. Quân đi trước, hai chị em tôi khoác tay mẹ hai bên. Ai cũng mặc áo len, choàng khăn kín mít mà tay vẫn không khỏi run run. Ngỡ ngàng khi thấy mình nói chuyện thở ra khói. Cảm giác lạnh hơn cả cái hồi xuống ga Đà Nẵng lúc 4 giờ sáng. Thấy mình thật ngố khi mẹ bảo mua nến mà không biết là đèn cầy. Đôi khi cứ toàn nghĩ đến nghĩa địa phương có thể là nhang mà quên mất một nghĩa khá thông dụng của nó…

Nhà cô Dung đang gói bánh chưng, bánh tét. Cả nhà đầy lá, gạo, đậu, lạt. Từ bé đến lớn đều tham gia rộn rịp đông vui. Hơi ngạc nhiên khi ở đây cũng gói bánh tét, tôi cứ nghĩ món này là của riêng miền Nam cơ đấy. Cô Dung là em ruột bác Thịnh. Giờ thì tôi biết người đón hai chị em lúc trưa là em rể bác Thịnh rồi. Có điều, tôi cũng chẳng hiểu Dung là tên thật của chú ấy hay cô ấy hay là cả hai vì thấy ai cũng là Dung cả. Tự hỏi mình ở đây có tục gọi tên vợ theo chồng không nhỉ?

Ngồi nói chuyện, hỏi han một chút. Mọi người khi nghe về hành trình của chúng tôi thì cứ gọi là tròn xoe mắt. Chú Dung cười bảo: “Thế này thì chỉ có ngồi trên xe là nhiều chứ đi chơi được bao!”. Bà cụ mẹ chồng cô Dung trông rất phúc hậu vẫn không ngớt thoăn thoắt gói những chiếc bánh vuông vức. Màu lạt tươi rói, màu lá xanh um. Mùi thơm của gạo thịt, của không khí đầm ấm gia đình. Anh Minh gọi điện về đúng lúc, như đã hẹn trước. Tôi và Bá đẩy Quân vào nghe để bảo anh Minh xuống sớm đón lên Thái Nguyên. 9 giờ tối, ở đây như đã khuya lắm rồi. Không nhiều đèn điện. Không nhiều ti vi để giải trí nên mọi người đi ngủ sớm. Con đường thôn vắng ngắt. Đi ngang nhà nào là chó nhà nấy sủa inh ỏi. Họa hoằn còn được vài ông vác cái bàn ra trước nhà uống trà nói chuyện. Sương xuống mờ mờ. Cảm giác đầu mình lạnh ngắt. Ba mẹ con rảo bước về nói chuyện ầm ĩ. Thấy tôi và Bá than lạnh, mẹ Oai bảo ở Thái Nguyên còn lạnh hơn. Một cơn gió thốc qua, khẽ rùng mình…

Chăn mùng đã mắc sẵn nhưng lạnh như đang ở trong tủ lạnh. Bỏ dép ra bước lên nền nhà đã thấy chân mình tím tái. Quân biết ý, chui vào giường tôi với Bá nằm trước. Nó ủ chăn nệm cho ấm rồi mới gọi tôi và Bá lên. Hơi cảm động. Sao ở nhà nó con nít là vậy, giành ăn với hai chị là vậy mà đi ra biết lo cho hai chị thế không biết! Tấm chăn nặng trịch như có người đè lên. Vẫn lạnh, nhất là tay chân. Ba chị em còn nói chuyện rù rì một lúc lâu nữa về chuyện tôi với Bá ở Hà Nội rồi mới cố nhắm mắt cho quên cái lạnh đang hiện hữu quanh mình! Cũng may, tôi và Bá đã kịp dạo được một vòng Hà Nội chứ nghe lời đại ca dụ về nhà trước thì có mà mơ mới được quay lại Hà Nội chơi.

Đêm dần đặc dần, đêm đầu tiên ở Hà Nội. Không gian tĩnh mịch, im ắng. Thảng nghe tiếng gió rít, tiếng cửa kêu kin kít và cả tiếng chó sủa râm ran từ nơi xa thẳm nào vọng lại. Tôi co mình, kéo chăn lút đầu…

Tuesday, January 22, 2008

Hoa tre - Phần cuối (22/1/2008)



Có một loài cây chỉ nở hoa lúc cuối đời, nở xong là chết; nở như biết mình đã đến và sẽ ra đi trong cuộc đời; nở như những giây phút dọn mình để giã từ thế giới; nở tưng bừng như điệp khúc một giai điệu tráng ca. Đó là TRE. (Hồ Đăng Thanh Ngọc)

...

Truyện ngắn Tre nở hoa (báo TN)

Hoa tre - phần 1

Tiếp theo phần 2

KiKi có khẩu vị thật lạ, lạ hơn hết thảy những kiki khác mà tôi từng biết. Nó thích bánh mì đến mê dại. Chỉ cần ngửi thấy mùi bánh mì thoang thoảng từ đầu cổng, nó đã luồn ra khỏi góc ấm cúng của mình chạy xuống. Nó làm những ai lần đầu đến nhà tôi cũng phải ngạc nhiên vì kiểu cách... xin ăn rất ‘nghệ thuật’. Ngồi nhìn người khác ăn, nó liếm mép rồi lấy tay... khều với cái mặt ngây thơ đến là thương. Chẳng ai từ chối nó được đến lần khều thứ 2. Những ngày bệnh, nó cũng chẳng thiết ăn gì ngoài bánh mì, những hôm ấy thấy tội nó, mấy chị em nhịn cả tiền quà để có ít sữa trộn vào bánh cho nó ăn. Không kể kẹo, bánh, ngoài bánh mì, Ki Ki nhai cơm dừa rào rạo. Không biết có phải vì nhà tôi có cây dừa, thỉnh thoảng mấy anh em vẫn trẩy quầy xuống ăn, nó ăn ké nên thành thói quen không nữa. Có điều Ki Ki không xin ăn dừa bao giờ, ai có lòng tốt thì cứ cắn từng miếng nhỏ cho nó ăn, vậy thôi. Ki Ki cũng ăn chuối, đậu phộng và uống... nước đá. Không có sự cách biệt nào lớn giữa những món tụi tôi chơi đồ hàng, nhà chòi với những món Ki Ki khoái khẩu, chắc thế mà thành hợp rơ.

Chỉ một điều hơi ‘quái’ trong khẩu vị của Ki Ki, đó là thuốc. Không cần biết là loại thuốc gì, sơ sẩy một tí là Ki Ki xơi gọn. Tôi chỉ phát hiện ra trong một lần bị cảm, đang ngán ngẩm vì thuốc quá nhiều, chưa kịp uống chỉ quay đi một lúc thôi, ngó lại đã thấy vơi hơn nửa. Đang ngạc nhiên vì quanh đi quẩn lại, thuốc chẳng thể văng đi đâu xa được thì càng ngạc nhiên hơn khi thấy Ki Ki đang liếm mép vẻ khoái trá. Từ đấy, mỗi lần uống thuốc, tôi cứ phải giữ rịt lấy thuốc của tôi hoặc dè chừng để tránh tầm tay, tầm mắt và tầm miệng của Ki Ki.

Cứ thế Ki Ki trở thành thành viên út của gia đình, đi qua từng biến cố, chặng đường. Từ ngày ông về quê, ngoài mẹ, chỉ còn tôi là chăm nó nhất nhưng cũng duy trì được đến cuối năm tôi học cấp hai. Những năm cấp ba, Ki Ki vẫn hiện diện trong từng thời khắc cuộc sống nhưng tôi không dành được nhiều thời gian cho nó nữa ngoài những tối học khuya có nó trông chừng, bầu bạn. Thêm nữa, đó cũng là khoảng thời gian sức khỏe Ki Ki bắt đầu sa sút. Sự thân thiết, quen thuộc đến độ tôi chưa từng nghĩ những ngày không có Ki Ki sẽ thế nào. Ấy vậy mà Ki Ki lớn nhanh và già nhanh lắm với cái tuổi của nó.

Một ngày đầu đông năm thứ 12 Ki Ki về với nhà tôi, nó trở bệnh nặng. Tuổi già đã lấy đi vẻ nào sự tinh anh của nó. Ki Ki không leo nổi cầu thang nữa và giả chăng nó có muốn ở lại cái ổ thiên đường của mình thì tôi và mẹ cũng không cho phép. Nhìn nó mỗi lần lên cầu thang với đôi chân già yếu, đôi lúc muốn khuỵu xuống là tôi lại lo lo. Phải cố chặn cầu thang mãi, mấy lần lên không được, Ki Ki mới quen với việc dời tổ ấm xuống dưới chân cầu thang. Rồi nó nằm bẹp một chỗ không đi được nữa, đôi lúc rên rỉ với cơn đau và đôi mắt đau đáu nhìn tôi lưng tròng. Mẹ phải lau người cho Ki Ki thường xuyên, tóc nó rụng lỗ chỗ. Vuốt một cái thôi đã được một túm đầy tay, chẳng khác nào người ta bị bệnh ung thư. Tôi chẳng còn giỡn được với nó cái kiểu... thò tay vào miệng bẻ răng nanh nó nữa. Nhìn những mẩu bánh mì khô khốc quắt queo trong tô nó mà phiền. Nó không ăn được, chỉ còn uống sữa qua ngày, thậm chí có hôm chẳng nuốt nổi sữa. Ngày nào đi học về, vào thăm nó cũng thấy ngùi ngùi. Mẹ bảo chắc nó chẳng còn ở lại được bao lâu...

Những ngày gần cuối đời của Ki Ki, cả nhà cố làm hết những gì nó mong muốn (tất nhiên là chỉ theo suy đoán), để nó được toại nguyện. Nó bớt đau hơn, bớt rên rỉ hơn và trong một khoảnh khắc nào đó, sức sống hồi phục. Một ngày cuối đông, đang ngồi học trong lớp, bất giác nhìn ra ngoài sân, tôi thấy rõ ràng là Ki Ki đang chạy nhảy. Một phút linh cảm bất an. Tan học, đi như chạy về nhà, mẹ bảo Ki Ki đã ra đi, thanh thản. Tôi giấu cái phút nhìn thấy Ki Ki chạy vào trường chào tôi trước khi đi, cái ảo giác mà chỉ tôi hiểu không phải là hoang tưởng.

Ki Ki nằm ngay dưới gốc trứng cá trước cổng. Mẹ bảo để bảo vệ nó trước những ‘con’ khác và cũng là để nó tiếp tục giữ nhà như những gì nó đã tận tụy với nhà tôi hơn chục năm qua. Mẹ nhắn nhủ với nó vài lời, chị thở dài xon xót, mấy anh em trai cố cho nó một góc vuông vức, bằng phẳng. Những ngày không Ki Ki, điều ngố nhất mà ai cũng mắc phải là gặp bất cứ món ngon gì Ki Ki khoái khẩu, lại vô tư ‘Để cái này lát cho Ki Ki ăn...’ rồi lại ngớ ra, cười xòa, lặng im một khắc. Có hôm còn cất tiếng gọi Ki Ki đã đời, khản cổ mới kịp nhận ra là mình ngố.

Mẹ không nhận về thêm bất cứ một kiki nào nữa. Còn tôi, từ dạo ấy vui buồn gì cũng leo lên cây trứng cá trĩu quả nằm thủ thỉ, cho đến khi cây trứng cá chỉ còn là một cái gốc rễ trơ trũi...

(HẾT)

________

Ảnh: kiki xinh xắn nhà Toàn (BC 04). Tuy không thích lắm chó lông xù nhưng bé kiki này khá dễ thương và không tin đc là bạn Toàn đã... nhuộm tóc đen cho nóimg.

Hoa tre - Phần 2 (22/1/ 2008)



Có một loài cây chỉ nở hoa lúc cuối đời, nở xong là chết; nở như biết mình đã đến và sẽ ra đi trong cuộc đời; nở như những giây phút dọn mình để giã từ thế giới; nở tưng bừng như điệp khúc một giai điệu tráng ca. Đó là TRE. (Hồ Đăng Thanh Ngọc)

...

(Tiếp theo phần 1)

Ki Ki đủ bản lĩnh để tự bảo vệ mình và bạn bè của nó. Bằng chứng là bất cứ đối thủ nặng kí nào đi qua nhìn thấy nó cũng phải gườm mặt. Nó từng cào chết mấy con mèo hay con gà nhà hàng xóm lơ ngơ đi lạc. Chiến công lừng lẫy của nó trong lần hạ đo ván con chuột cống cáo già, to gần bằng bắp chân khiến ai cũng phải nể vài phần. Nó tự do đi lại trong lãnh địa của mình, lúc thì nằm ở nhà dưới nhìn thẳng ra đường trông chừng thiên hạ, khi nằm ườn ra sân phơi nắng, mắt nheo nheo lại trông đến là hay. Có hôm hứng chí lại chạy ra vườn bò lăn bò toài quậy với đám rau cải xanh tơ vừa mới nhú. Cả nhà quen để Ki Ki tự do làm điều nó thích, đến giờ ăn mới gọi nó vào bàn. Tuy nhiên, Ki Ki tuyệt nhiên không thích chạy rông ngoài đường. Vả chăng trong nhà đã quá đủ đồ cho nó chơi rồi. Vài lần có để cửa toang hoang nó cũng chẳng buồn ra khỏi lãnh địa, trừ khi có đứa nào dòm ngó địa vị của nó. Thế nhưng địa vị độc tôn của nó cũng có lúc lung lay khi có sự xâm lấn với thế lực bảo trợ mạnh hơn nó. Điển hình như con Đen.

Đen là cục cưng của chị hàng xóm, kế cận nhà tôi. Gọi Đen là vì toàn thân nó là một màu đen thui, tất nhiên xấu hơn Ki Ki nhiều. Ngày đầu đến nhà tôi, Đen đã bị Ki Ki gầm gừ nhưng với sự có mặt của chị hàng xóm, thêm sự cảnh cáo trước của mẹ nên Ki Ki chẳng dám động thủ gì ngoài việc nhìn con Đen đầy cảnh giác. Chẳng hiểu có phải vì biết mình được bảo trợ hay không mà Ki Ki càng tỏ vẻ oai hùng, nghiêm túc, đứng đắn bao nhiêu thì trêu ngươi thay, con Đen lại càng nhí nhảnh, cà rỡn bấy nhiêu. Không có sự ngăn cách rõ ràng nên Đen vẫn chạy tung tăng ở cả địa phận của Ki Ki, mấy lần bị Ki Ki nhảy xổ ra hù chạy tóe khói mà vẫn không biết sợ là gì.

Nếu như Ki Ki ghét cay ghét đắng cái việc người ta chỉa ống kính vào mình (nhác thấy bóng dáng máy ảnh là nó quay ngoắt chạy đi) thì con Đen cứ hễ thấy đám đông nào túm tụm chụp hình là chạy lại chìa cái mặt đen thủi đen thui của mình vô làm dáng. Khắc nhau đến vậy mà chẳng rõ từ khi nào, tôi dần nhận ra Ki Ki cũng có thể chấp nhận con Đen. Vài lần con Đen tung tăng tung tẩy ngay trước mặt, Ki Ki cũng chẳng gầm gừ nữa. Nó sống hòa thuận với nhau hết một mùa Tết, rồi con Đen dọn đi tít mãi Đà Lạt. Nghe đâu là vợ chồng cô hàng xóm có chuyện bất hòa và con Đen là thứ con ghẻ quẳng cho một người quen nào đó trên Đà Lạt nuôi. Không nhớ những ngày ấy, Ki Ki có buồn?

Ki Ki sống mẫu mực và khuôn phép theo cái lề lối chúng tôi đặt ra. Thế nên ngày nào vắng bóng nó thật đúng là chuyện lạ. Vậy mà, một ngày, đột nhiên không thấy Ki Ki đâu thật. Nó biến mất ngay trước bữa cơm chiều. Gọi mãi không được, cả nhà túa đi tìm, lên tận hai đầu đường, sắp ra đến xóm lân cận mà vẫn không thấy. Mẹ chậc lưỡi Thôi, thế là nó đi thật rồi. Ông đăm chiêu "Khéo có đứa nào thuốc nó chứ nó đi đâu được mà mất!. Tôi thỉu thiu buồn xo, nỗi buồn của con nít dễ quên ngay trong giấc ngủ cuối ngày. Chẳng biết vì mệt hay cố tình đợi cửa Ki Ki mà tối ấy cả mẹ lẫn người kỹ tính như ông đều quên đóng cửa cổng. Mẹ giật mình thức dậy lúc tinh mơ nhập nhoạng. Ai đó đang gọi cửa rất điệu nghệ. Tiếng thanh nhẹ lộp cộp vừa đủ nghe, đoán chừng là âm thanh phát ra từ một bàn tay nhỏ nhắn. Chột dạ, hiếng qua khe cửa, mẹ đụng phải đôi mắt long lanh của Ki Ki, miệng toét ra cười rối rít.

Từ đấy, mọi người quen hơn một chút, việc ‘lãng tử’ của Ki Ki như thỉnh thoảng chạy lên đầu đường chơi hay loanh quanh đâu đó giờ cơm chưa kịp về. Có dạo, tivi chiếu phim Chợ tình, xem xong đã khuya lắm rồi mà vẫn chưa thấy KiKi, tìm gọi mãi khắp xóm trên hẻm dưới mới thấy nó lon ton chạy về. Mọi người luôn miệng chọc: KiKi mà cũng bày đặt đi... chợ tình. Ông xoa đầu nó, còn tôi thích nhất những lúc nó như thế, trông nó mừng rỡ rối rít với tôi cứ như mấy năm trời không gặp.

(Còn tiếp)

Tre nở hoa (truyện ngắn báo Thanh Niên)

Hoa tre - Phần cuối

___________

Ngày đi về xã biên giới của Long An, đã sững sờ khi thấy kiki này (ảnh) cứ lẽo đẽo bám mình, vì nó có nét gì đấy rất giống Ki Ki...

Hoa tre - Phần 1 (22/1/08)



Nhân nhớ về truyện Tre nở hoa mà mình rất đồng cảm

Nhân chuyện Chích (tự xưng là sinh ra và lớn lên trong nền "văn hóa ẩm thực thịt chó") viết về "Cờ tây"

Mình viết về KiKi của mình…

Có một loài cây chỉ nở hoa lúc cuối đời, nở xong là chết; nở như biết mình đã đến và sẽ ra đi trong cuộc đời; nở như những giây phút dọn mình để giã từ thế giới; nở tưng bừng như điệp khúc một giai điệu tráng ca. Đó là TRE. (Hồ Đăng Thanh Ngọc)

***

Bố ẵm nó về nhà không một lời báo trước, giữa lúc chẳng ai ngờ. Nó khỏe và táo tợn lắm. Bố bảo “dân” sinh sống ở biển đều thế…

Nó có đôi mắt thông minh nhưng cái mặt có vẻ hơi hung tợn. Có lẽ một phần do chưa quen người, quen chỗ. (Hơi khác người, vì lẽ ra người ta phải e dè khi lạ chỗ mới phải). Mẹ chỉ dám ngồi trên giường ngó nó trân trân. Ai đi qua cũng phải ngó nhìn nó bằng cái vẻ vừa thinh thích vừa hơi e dè vì cứ thấy ai có vẻ không thiện cảm với mình là nó lại la toáng lên. Năm ấy, nó tròn 2 tuổi.

Những ngày đầu về nhà, nó chỉ quý mỗi bố. Ở tuổi đấy mà nó cũng dài gần bằng chiều cao của bố chứ chẳng chơi. Cứ xem nó sải hết tay chân mỗi lần đón bố đi làm về thì biết. Sau cả tháng trời rèn luyện, nó cũng quen được với cơm cá nhà bình dân thay cho khẩu phần thịt bò phi lê mỗi ngày trên tàu. Sau 1 tháng làm quen, nó chính thức trở thành thành viên thứ 8 trong nhà với tên gọi thân mật mà mọi người đặt cho: Ki Ki.

Ki Ki là con lai, có gốc đâu tận Đức. Tóc nó mang màu vàng của đất. Mắt giả thông minh. Người bụ bẫm. Bố tôi quý nó lắm. Chẳng nhớ khi bố tôi đi nó có mít ướt không vì khi ấy nó chưa có chỗ trong ký ức của tôi nhưng từ ngày nó quấn quýt với ông, tôi cũng đâm thân nó. Tối nào ba ông cháu cũng ngồi quây quần bên nhau nghe ông kể chuyện. Ki Ki rất khoái được ông rờ đầu. Cái cảm giác đã ngứa, mê mẩn, gần gũi, thoải mái, thư giãn… không thua gì massage ngoài tiệm. Có lẽ biết nó khoái mà mấy bận tôi thấy ông rờ đầu nó đến quên mất món khoái khẩu của mình: thời sự lúc 7 giờ. Ki Ki leo cầu thang rất giỏi. Cầu thang vòng xoắn ốc mà nó phóng như bay khiến ai lần đầu thấy cũng phải kinh ngạc. Giường của nó án ngữ ngay đầu căn gác gỗ, là nơi ấm cúng nhất, yên bình nhất mà Ki Ki có thể rúc vào phòng thủ mỗi khi chạy trốn một điều gì đó làm nó sợ hãi, như pháo nổ những ngày còn chưa cấm đốt pháo chẳng hạn. Nó có nhiều khả năng đặc biệt mà mỗi lần gặp sự cố là mỗi lần chúng tôi phát hiện ra, đầy mới mẻ.

Ngoài ông và bố ra thì có lẽ Ki Ki gần gũi nhất với tôi. Cứ đi học về là tôi chạy vào ôm nó vuốt ve. Tôi thích cái nhắm mắt của nó mỗi lần thấy tôi giả vờ giơ tay lên vỗ đầu. Tôi là người chịu kỳ cọ chén bát cho nó, chỉ cần thấy nó than đói là chạy vào bếp lục tìm cho nó một bữa ngon. Tôi tập kể chuyện cho nó nghe. Rồi vui, buồn cũng tâm sự với nó lúc nào chẳng biết. Tôi không biết nó có hiểu chuyện ‘người lớn’ của tôi không nhưng thấy mắt nó long lanh, mặt gật gù ra vẻ thông cảm, chia sẻ là đủ tin cậy lắm rồi. Có lẽ nó cũng nhận ra tình cảm của tôi với nó nên lúc nào cũng quấn quýt với tôi, ưu ái tôi hơn mấy anh chị em khác. Ăn cơm, nó cũng ngồi cạnh tôi và cũng chỉ có tôi, nó mới chịu để yên cho tròng vào cổ nó một sợi dây chuyền bằng nhựa, hoặc giả nó nghĩ với sức của nó chỉ cần lắc mạnh một cái là sợi dây nhựa bung ra nên chẳng cau có với tôi làm gì. Nó là chúa ghét đeo bất cứ thứ trang sức gì vào người!

Một ngày hè, mẹ mua những cục xương to về nấu cháo. Tất nhiên, Ki Ki là đứa khoái nhất vì hiển nhiên phần xương ấy sẽ thuộc về nó vô điều kiện. Cuối bữa ăn, tôi ngồi nhìn cái vẻ mặt của nó gặm xương vừa háo hức vừa khổ sở vì những cục xương ngoại cỡ, theo cái kiểu bỏ thì thương vương thì tội. Không cầm lòng được, tôi nhảy vào cầm bát xương của nó để ra chỗ khác. Nó vẫn mải mê với cục xương đang gặm dở, tôi vô tư thò tay vào miệng nó móc ra. Đến khi Ki Ki thoát khỏi cái cảm xúc thăng hoa, nhả được cục xương ra thì cả tôi lẫn nó đều hốt hoảng vì tay tôi máu đã chảy thành dòng. Chị tôi la lên khe khẽ, lấy áo quấn tay tôi, vẻ sợ sệt: Giấu đi…Giấu đi… Đừng cho mẹ biết... nhưng hình như không kịp nữa vì mẹ đã nghe tiếng khóc nấc của tôi.

Năm ấy là năm nắng to. Hai mẹ con chạy khắp các trạm xá, giữa cái nắng hầm hập đổ lửa mới tìm được một nơi còn thuốc chích ngừa. Tôi về nhà với cái mu bàn tay băng bó trắng phóc. Mẹ la la nhưng cũng chẳng ai đả động đến Ki Ki. Vậy mà suốt tuần ấy, hôm nào tôi cũng thấy Ki Ki im lặng nằm phục dưới chân bố, ra vẻ hối lỗi. Ai đuổi cũng không đi. Nhìn mặt nó thương thương chẳng nỡ giận... Tay tôi dần lành nhưng dấu răng của Ki Ki ở cổ và mu bàn tay thì thành sẹo, chỉ mờ đi chứ không mất hẳn. Lạ một điều, vết sẹo không làm rạn nứt tình cảm của tôi với Ki Ki mà ngược lại, như một sợi dây liên kết vô hình, gắn chặt tôi và nó. Như người ta vẫn bảo
ai làm cho mình đau thì mình càng yêu người đó hơn vậy. Lẽ dĩ nhiên nó chỉ đúng trong một vài trường hợp cụ thể nào đấy.

(Còn tiếp)

Hoa tre - Phần 2

Phần cuối

Tuesday, November 20, 2007

Ông thầy và "cô hạt tiêu" (20/11/2007)

Lu bu. Lu bu...
Nhắn cho cô cái tin chúc mừng. Cô nhắn lại "Thanks! Cô thích lời chúc này lắm!" Vui vui.
Th nhắn hỏi số đt thầy nhưng...
Nghĩ cũng ngộ, ai cũng ấn tượng về thầy mà ngay số đt cũng ko biết!
Post lại bài viết ngày xưa của mình về thầy. Đọc lại thấy cũng ngô nghê, nhưng kêu viết lại ngô nghê đc vậy chắc cũng ko thể! Viết từ hồi 2003 mà gửi muộn dịp thành ra 2004 mới thấy xuất hiện. Cũng là một giai thoại...
Bài cho "cô hạt tiêu" sẽ post sau vậy!

ÔNG THẦY

Ngoài trời mưa vẫn rơi. Phòng học được lót gạch bông nhưng vẫn thấp hơn sân trường nên nước ở ngoài cứ chảy vào phòng lênh láng. Tụi học sinh chúng tôi để chân lên chân ghế, chân bàn cho khỏi ướt, một vài đứa lấy giấy xếp thuyền thả trôi từ đầu lớp đến cuối lớp. Lớp học hơi ồn và có vẻ nhốn nháo.

- Tập đi cho quen. Ở dưới miền Tây, nước ngập lên tới nóc nhà mà người ta vẫn đậu Đại học như thường, ở đây nước vào có một chút đã nhốn nháo cả lên.

Câu nói ấy cũng chẳng có gì đáng cười nhưng được phát ra với cái giọng “át cả tiếng mưa”, từ cái vóc dáng ấy và với cái nét mặt cười cười có vẻ bí hiểm của “ông ấy” lại làm cho cả lớp phải bật cười sảng khoái. Tiết Toán hôm ấy bỗng dưng trở nên thú vị, không còn khô khan và buồn ngủ như những năm trước nữa. Đó là ấn tượng đầu tiên của lớp chúng tôi về “ông ấy”. Chúng tôi còn được biết “ông ấy” sẽ “theo” lớp chúng tôi trong suốt ba năm Trung học này.

Lớp tôi đang xôn xao chuyện đi học thêm môn Toán. Lớp trưởng bảo “Ai không biết nhà thầy thì cứ hỏi Triết”. Tôi thắc mắc khều nhỏ bạn kế bên: “Ủa, mới đầu năm học mà sao Triết lại biết nhà thầy?”.

- Nhà của nó mà nó không biết sao được. Triết là con của thầy – lại thêm một điều thú vị nữa xoay quanh “ông ấy”.

Chẳng biết tại sao mới đầu năm “ông ấy” lại biết tên tôi mà kêu lên bảng làm bài. Lúc đầu, tôi chỉ nghĩ là “ông ấy” nhìn vào danh sách hoặc bảng tên mà kêu đại. Chỉ nghe loáng thoáng bạn bè kháo nhau bảo vợ thầy cũng tên Hạnh như tôi. Lúc học vi tính, tình cờ Triết ngồi gần tôi. Tôi và nhỏ bạn kế bên (mà chủ yếu là nhỏ bạn kế bên thì đúng hơn) nói chuyện với Triết mới biết được cô và tôi không chỉ giống nhau ở cái tên mà ngay cả họ cũng không khác nhau một chữ gì – một sự trùng hợp kỳ lạ. Hèn gì thầy cứ hay để ý kêu tôi lên bảng làm bài. Nhưng thú thật tôi cũng chẳng thích gì chuyện đó vì tôi vốn đã không thích và không được giỏi lắm (nếu không muốn nói là dở) cái môn khô khan của thầy.

Trong lớp, Triết chẳng gọi thầy là “thầy” mà cũng chẳng gọi thầy là “ba” mỗi khi đứng lên phát biểu, chỉ nói trỏng như “Bài đó sao lại ra kết quả này?”, “bài này bị sai ở chỗ kia”, hay “làm cách này cũng được vậy!”… Đã vậy thầy lại còn hay chêm vào “Ngộ ghê ta, ở nhà quá trời thời gian thì không hỏi, cứ để vô lớp mới hỏi là sao ha”, làm cả lớp nhiều phen cười nghiêng ngả. Có khi thấy Triết vẽ hình bằng tay, thầy lại chọc “Nếu bận học quá không có thời gian ra cửa hàng mua thước thì mở tủ lấy cây vàng làm thước cũng được vậy” làm cả lớp không thể nín cười. Lúc dạy bảng lượng giác, thầy vẫn dặn chúng tôi thuộc lòng những cung thường gặp và không quên dặn thêm “Mai mốt, trước khi chết con cháu có hỏi sin của ba mươi độ là bao nhiêu thì cũng phải trả lời xong mới được nhắm mắt nghe chưa”…

Năm thứ hai của cấp ba… Thầy đã quen tên và mặt của từng thành viên trong lớp. Lũ bạn tôi đã biết chọc giỡn với thầy như “người nhà” còn tôi vẫn vậy – không dám giỡn với thầy vì nể sợ và vì cả nhút nhát nữa, nhưng vẫn thường kể chuyện về thầy cho chị tôi nghe. Một cách ngẫu nhiên, năm nay chị tôi lại là lớp trưởng lớp thầy làm chủ nhiệm. Tôi và chị tôi vẫn đi – về cùng nhau nên chuyện thầy biết chúng tôi có liên quan là điều hiển nhiên.

- Em với Hà là chị em ruột hả?

Tôi chỉ biết gật đầu trong khi lẽ ra đã có thể nói nhiều hơn với thầy. Hôm 20-11, lớp chị tôi đến nhà thầy chúc mừng và tôi được biết thầy cũng có nhắc đến tôi trong câu chuyện của chị tôi “Ở nhà, Hạnh có hay kể với em chuyện gì không? Sao mỗi lần kêu nó lên bảng, mặt nó xanh lè à”. Nghe xong tôi cũng “hơi tức” nhưng lại không sao giận được “ông ấy”. Tiết Toán hôm sau, thầy kêu tôi lên bảng làm bài đúng như tôi đã nghĩ…

Triết học khá môn Toán của thầy nhưng lại không được suôn sẻ với môn Văn. Sai lầm của Triết là đã xem tài liệu trong một lần kiểm tra Văn. Biết chuyện, thầy đã không nể nang và dạy Triết trước lớp – đó cũng là những lời nhắc nhở đối với chúng tôi “Người gian thì ở đâu cũng gian”.

Cứ tưởng ba năm là một khoảng thời gian rất lâu, vậy mà quay đi quay lại cũng đến năm cuối cấp. Thầy truyền cho lớp chúng tôi rất nhiều “kinh nghiệm xương máu” để học thi vì “thầy coi các em cũng như con của thầy vậy”. Lớp chúng tôi đã thuộc nằm lòng những câu nói “giỡn như thật” của thầy, đại loại như “học trò thời nay gan thật, chưa làm bài mà cũng dám đến trường, tôi hồi đó chưa làm bài tập thì chỉ biết chui bụi chuối mà trốn thôi”, rồi “mỗi ngày đi học là một ngày hội, mỗi bài tập là một niềm vui”, “học trò dưới miền Tây, mùa lũ toàn leo nóc nhà ngồi canh lương thực cứu tế vậy mà vẫn đậu Đại học như thường”, vân vân và vân vân. Những tiết học của thầy không bao giờ nhàm chán vì chúng tôi vừa được cười no bụng lại vừa hồi hộp với những bài kiểm tra đột xuất. Lúc giỡn thì vui vậy nhưng khi kiểm tra thì chẳng đứa nào nhúc nhích được với thầy. Những lúc thầy bực vì chúng tôi không làm được bài, thầy cũng không kém phần nghiêm khắc. Thầy mà quát, ai đứng trên bảng cũng phải rớt phấn vì giật mình. Chỉ có điều cơn bực của thầy lại nguôi rất nhanh…

Sinh nhật thầy, lớp chúng tôi đã tổ chức mừng và chơi trò chơi rất vui. Thầy lúc ấy như một người bạn đùa giỡn, hòa đồng với chúng tôi. Không chỉ lớp tôi mà hầu như lớp nào thầy dạy qua cũng đều quý mến thầy. Lớp tôi và lớp thầy chủ nhiệm vẫn hay giành nhau xem lớp nào mới là “con ruột” của thầy.

Ngày thi đang đến gần thì ngay chia tay cũng sắp sửa kề. Cả thầy lẫn trò đều bù đầu với bài vở. Lũ bạn vẫn than “Gặp thầy còn nhiều hơn gặp ba mẹ mình”. Thầy vẫn thường giúp chúng tôi thư giãn bằng những câu chuyện vui, vẫn nghiêm khắc khi chúng tôi giải bài sai. Bận rộn vậy nhưng lưu bút vẫn chuyền tay nhau, đứa nào cũng có nhắc đến thầy trong đó, cũng có nhiều cuốn lưu bút có chữ ký của thầy ở trang đầu. Ngày chia tay với lới chúc thi tốt của thầy và vẫn giọng cười đùa bí hiểm: “Phượng năm nay nở nhiều chắc trường mình sẽ đậu cao”…

Điều mà tôi thích nhất ở thầy đó là mọi học trò đều bình đẳng như nhau dù học thêm hay không học thêm vẫn hiểu được bài thầy giảng, thầy vẫn quan tâm chỉ bảo như nhau. Khuyết điểm lớn nhất ở thầy đó là việc hút thuốc. Mặc dù chúng tôi vẫn hiểu những người ở tuổi như thầy thì bỏ thuốc chẳng dễ dàng tí nào. Có lần, thầy hiệu phó nhắc nhở việc các học sinh, nhất là học sinh nam không được hút thuốc, tụi nó bắt bẻ chuyện các thầy hút thuốc thì thầy hiệu phó bảo “thấy thầy nào hút thuốc cứ báo”. Lớp nó nhao lên muốn nói tới thầy. Vào lớp, thầy vẫn “giỡn như thật”: “Hồi nãy tôi thấy lớp này la nhiều nhất nè, tình nghĩa thầy trò mấy năm trời mà vậy đó, chưa ra trường đã thế rồi”.

Chuyện về thầy là một bản trường ca tưởng chừng như không có kết thúc bao giờ. Tôi và chị tôi những lúc trò chuyện cũng như bạn bè tôi mỗi khi gặp nhau vẫn thường hay nhắc về thầy, vẫn thường dùng những câu nói quen thuộc của thầy để chọc giỡn nhau…

Tôi kể lại những chuyện này như hồi ức về thời áo trắng của mình và cũng là những điều mà trước giờ tôi chưa dám nói với thầy – người vẫn luôn xuất hiện trong cuộc sống thường ngày của tôi.

(10.2003, Đăng trên Áo Trắng số 91, 15-11-2004)

P/S:
Lớp 12, có lần thầy đang giảng bài thì thầy dừng lại nói: "Nghị ! Em đừng làm thầy sợ". Cả lớp quay mặt hướng về tên đó, nó như kịp hòan hồn rồi thầy bảo "Tôi đang giảng bài mà thấy nó nhìn xa xăm rồi cười nữa chứ"
Vui nhất là hồi lớp 12 lớp mình tổ chức Sinh nhật cho thầy dù thầy ko fải là CN, hôm đó là giờ học tăng tiết buổi chiều, cả lớp bày trò này vừa mừng SN thầy vừa trốn tiết học. Cũng may cái fòng ấy xa "mặt trời", cửa kính đóng kín nên cả lớp có dịp quậy tưng bừng, lấy bánh kem trét vào mặt thầy nữa, cuối giờ thì fòng học như bãi chiến trường, nhưng vui.
Còn chuyện này nghe kể lại nhưng ko biết có đúng ko, hồi đó chiến thuật "cưa cô" (tức mẹ của thằng Tr), thầy thấy cô chạy xe đạp đằng xa, nên giăng dây giữa đường, đợi cô đến gần rồi giật dây cho té chơi, xong rùi làm anh hùng nghĩa hiệp ra giúp đỡ (thầy láu cá thật nhưng dễ thương đấy chứ).

Copy từ blog bà Khỉ già

Tuesday, February 13, 2007

Quy hương ký - phần 3 (February 13, 2007)

NỬA NGÀY Ở THỦ ĐÔ

Ga Hà Nội nhộn nhịp người ra vô. Lạnh co ro. Trời còn tối, mờ mờ sương. Đoán chừng 4 giờ sáng. Vậy là tàu trễ hơn 1 giờ. Thấy tội nghiệp Quân vì đa số đồ đạc toàn nó vác. Bước ra cổng là bãi đậu xe, cơ man là xe ôm chào mời. Xe ôm ở đây cũng nhộn nhịp chẳng kém gì các bến xe ở Sài Gòn, chỉ được cái không lôi kéo nhằng nhì như tôi vẫn gặp. Dù vậy, ba chị em cũng phải lắc đầu đến ngoẹo cả cổ. Quanh quất chẳng thấy ai, biết đi đâu giờ này? Để Bá và Quân đứng trông đồ, tôi len ra khỏi dòng người đang sắp sửa ùn tắc, chạy sang bên kia đường để gọi điện cho mẹ. Cái thẻ điện thoại từ đời nào ngủ quên trong ví, giờ lại trở nên hữu dụng. "Ai vậy? Hoan hả, mẹ đâu?" thấy giọng nó ngái ngủ nhưng hớn hở ra mặt. Hồi biết kế hoạch đi của tụi tôi, nó cứ tiếc mãi vì không được tham gia.

- Mẹ hả. Tụi con tới Hà Nội rồi. Khỏe hết, Bá say tàu nhưng giờ không sao rồi. Ủa có ai ra đón tụi con không? Tàu trễ hơn 1 tiếng lận…

- Tối qua mẹ gọi, nghe đâu con Liên đi đón, thử đứng đợi nó chút coi.

- Ôi trời, sao lại kêu chị Liên đi đón. Chỉ có biết mặt tụi con mà tụi con cũng có biết mặt chỉ đâu!

- Chắc thằng Quân nhớ mặt con Liên đó, cứ chờ đi nhé!

- Dạ, vậy thôi, nếu không gặp thì con sẽ gọi lại sau nha mẹ.

Cho tay vào túi chiếc áo khoác dày cộp, hà hơi ra khói. Ga Hà Nội nằm ngay một cái ngã ba, đường rộng thênh, vắng tanh. Nếu là giờ này ở Sài Gòn chắc cũng vậy. Vào chỗ đứng đợi, chỉ thấy Bá với cơ man đồ đạc, túi xách. Không biết Quân đã đi đâu mất rồi. Đất lạ, xung quanh là người lạ không rõ tốt xấu. Đang lo vì chị Liên chỉ biết mỗi Quân, lỡ đâu đi phớt qua hai chị em mà không biết. Nhưng rồi Quân từ xa đi lại, theo sau đã là một dáng người cao to. Anh Minh. Reo lên đầy mừng rỡ.

- Trời ơi, tưởng đại ca để chị Liên ra đón chứ. Đang lo đây này.

- Tàu trễ hả. Anh đi từ 2 giờ rưỡi, chờ mãi mà không thấy đâu. Nghe mẹ bảo tàu đến khoảng 3 giờ. May mà chưa đi về.

- Tôi đoán chắc đại ca thế nào cũng lo ngó ở cửa ra vào. Đến đó, thấy ai quen quen, hóa ra là đại ca. Quân dẫn giải.

Bốn anh em kéo nhau đi. Có anh Minh nên Quân cũng đỡ nặng được phần nào. Anh Minh là anh chị Xuyên, con thứ ba của mẹ Oai tôi. Dạo trước anh ấy vào ở nhà tôi, chức to nhất trong mấy chị em nên được gọi là "đại ca". Giờ quen miệng, tụi tôi vẫn gọi vậy. Anh ấy đi làm chừng được hai năm thì bác, mẹ Oai tôi gọi về vì ông nội bệnh nặng. Mấy anh em tay xách nách mang sang đường, bỏ lại cái nhìn tò mò lẫn những lời chào mời của hàng tá bác xe ôm. Ghé vào một hàng phở ngay góc ngã ba ấy. Tô phở Hà Nội đầu tiên là ở đây. Không phải là sợi phở dẹp, mỏng, bản to mà là sợi phở tròn, dày, thanh nhỏ. Không tương, không rau và cái vị nước cũng khác. Ăn được nhưng để nói đến từ ngon thì không phải là món mà tôi, Bá và Quân mong đợi. Có dịp nhìn kỹ lại đại ca, ốm và đen hơn so với hồi còn ở nhà tôi. Có lẽ là lo và phải chạy tới chạy lui bệnh viện chăm sóc ông. Hỏi thăm ông nội anh ấy, một cái giọng trầm đục cất lên: "Giờ thì tạm ổn rồi nhưng chắc không qua được Tết này!". Một chiếc taxi trờ tới. Chiếc taxi anh Minh đã kêu sẵn từ gần nhà ông nội anh ấy lên đây. Tôi với Bá nhìn nhau:

- Anh với Quân đem đồ về nhà trước nhé. Tụi em còn đi tham quan Hà Nội cho biết. Chẳng lẽ tới đây rồi mà không đi đâu.

- Về cho bố mẹ anh thấy mặt đã rồi đi chơi. Hai cụ trông từ qua đến giờ. Anh mà về một mình có mà bị mắng cho à! Từ chỗ anh bắt xe lên đây chơi có nửa tiếng chứ nhiêu. Thôi về đi cái đã.

- Có thằng Quân về rồi nè. Anh cứ nói đến trưa tụi em về là được. Chứ về đó rồi có mà đi chơi được á!
Quân im im không nói gì. Anh Minh cũng chịu trước tính gàn bướng của tôi. Say xe chứ Bá cũng thích đi loanh quanh Hà Nội mà!

- Thôi được rồi. Thế em tính đi chơi Hà Nội bằng gì?

- Xe buýt

- Ừ, vậy cũng được. Khi nào về, em cứ gọi cho anh Thành lái taxi đây, anh ấy sẽ lên đón hai đứa. Còn nếu đi xe buýt, em cứ bắt tuyến số 17 về Phủ Lỗ rồi gọi điện về nhà chú Dung nhé. Đây, số điện thoại của anh Thành với nhà chú Dung, đừng để mất đấy!

- Ôi, vâng, biết rồi, đại ca khéo lo thế!

Tôi nhăn răng cười, có lẽ một phần vì cái địa danh Phủ Lỗ nữa.Chất đồ lên xe, giữ lại 2 cái túi đựng đồ lặt vặt nhẹ nhất của tôi và Bá. Mấy anh em nhờ anh Thành chụp cho một kiểu hình lấy thẳng ra ga Hà Nội. Tôi canh sẵn và anh Thành chỉ việc bấm máy. Có điều, tôi quên không phòng hờ chụp thêm tấm nữa, mấy tấm phim đầu thường hay bị bỏ đi… Khi chiếc xe taxi đã phóng vút đi, tôi và Bá xốc lại cái túi xách xinh xinh của mình để đi dạo phố. Chưa đến 6 giờ sáng, trời Sài Gòn còn trong trẻo huống chi Hà Nội. Hít hà cái không khí dễ chịu này và bắt đầu cuộc hành trình. Đi dọc theo con đường Trần Hưng Đạo từ ga ra, tôi và Bá ngó quanh cái nếp sinh hoạt của thủ đô những ngày giáp Tết. 27 Tết rồi còn gì. Không biết có phải vì là những ngày giáp Tết hay chỉ riêng biệt một vài con đường như con đường này không mà tôi có cảm giác Hà Nội thức dậy muộn hơn Sài Gòn. Tôi đảo mắt tìm một chiếc xe buýt nào đấy để đi nhưng Bá vẫn còn âm hưởng của cơn say tàu lao đao nên tôi nhất trí với Bá chừng nào không đi bộ được nữa thì mới bắt xe buýt. Taxi, Bá cũng không chịu được, còn xe ôm thì chẳng còn gì gọi là đi chơi Hà Nội nữa. Đi lang thang theo ngẫu hứng giống như hai đứa trẻ chưa biết gì, gặp cái gì cũng thấy mới lạ và thích thú. Đường Hà Nội có khác, không khói bụi, ồn ào như Sài Gòn. Nó cứ có một cái vẻ gì đó trầm lắng, cổ kính. Cây cối cũng nhiều hơn, đường nào đường nấy mát rượi. Ngắm nghía Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô. Lang thang qua vài cái ngã rẽ, ngó lên đã thấy đường Quang Trung. Hai chị em đang lang tang đi thì gặp một anh mặc sắc phục đang đứng gác. Không hiểu có phải vì nhìn hai chị em lơ ngơ không mà tự nhiên anh ấy tiến đến cười rất tươi hỏi chúng tôi muốn đi đâu. Tôi nhờ chỉ ra đường Thanh Niên. Hai chị em cám ơn rồi đi tiếp vì biết anh ấy có chỉ tận tình thế nào mình cũng chẳng nhớ nổi vài ba cái ngã quật lung tung ấy. Bắt gặp một cái công viên. Công viên Lê-nin. Vài ông bà cụ đang tập thể dục, thỉnh thoảng cũng thấy vài bà mẹ trẻ với nôi đẩy trẻ em. Hai chị em chọn cảnh chụp hình, muốn lấy cả bồn hoa vạn thọ đang khoe sắc vàng cam rực rỡ lẫn tượng Lê-nin sừng sững ngay giữa. Không có gì đặc sắc lắm nên chúng tôi chỉ dừng ở đó một lát rồi đi. Tôi muốn ra lăng Bác, muốn đến xem con đường mà báo chí từng bảo là đẹp nhất Hà Nội: Đường Thanh Niên nhưng lại không có bản đồ trong tay. Ngó đi ngó lại cũng chẳng thấy chỗ nào có thể vào mua một cái bản đồ. Ngang qua phố Thợ Nhuộm, ra phố Bà Triệu, qua con đường có tấm biển đề Hai Bà Trưng. Tiếp tục đi qua những phố Quán Sứ, Hàng Gai… Lướt ngang qua một cái biển lớn. Chợ Hàng Bè. Tôi muốn reo lên khi rủ Bá vào xem. Cái biển đề Chợ Hàng Bè to uỳnh. Từ ngoài nhìn vào đã thấy treo lủng lẳng những con vật béo tròn trùng trục đã được làm sẵn. Nhìn kỹ, nghe mùi hóa ra là thịt cầy. Tôi vốn yêu loài vật trung thành này nên trông thấy lại ghê ghê, tồi tội. Vượt qua gian hàng thịt cầy ấy là hàng rau, trái cây. Bất chợt tôi nghĩ đến phật thủ. Vốn được giới thiệu nó là đặc sản của quê tôi nhưng cũng thử tìm xem ở Hà Nội có không. Trước khi đi, tôi đã định mua nó làm quà cho một người bạn. Thử tìm, vậy mà có thật. Không phải tìm lâu, ngay gian hàng trái cây đầu tiên tôi và Bá đặt chân đến. Tôi nhảy cẫng lên với Bá "Phật thủ kìa!", cứ làm như là được thấy Phật vậy chứ không phải chỉ là một loại trái cây, không nhận ra được lúc ấy trông mình buồn cười thế nào.

2f68

Tôi may mắn có dịp được chiêm ngưỡng cái thứ quả kỳ lạ này qua hình ảnh nên giờ thấy là nhận ra ngay. Cô bán hàng mặt hoa da phấn, trang điểm kỹ càng đang xếp lại các loại hoa quả, sau một phút hiếu kỳ nhìn hai chị em. Tôi cầm quả phật thủ được bao bọc cẩn thận lên ướm lời hỏi giá, cô bán hàng vẫn không ngơi tay sắp xếp, buông xõng một câu "Hai trăm.". Tôi và Bá tròn mắt nhìn nhau, hỏi lại lần nữa "Hai trăm ngàn ạ?". Tôi hỏi lại, phần vì hơi ngạc nhiên trước cái giá của Phật thủ, phần để chắc chắn, vì trong Nam có những chỗ bán hàng rất vui, có thể nói chơi giá, cứ việc thêm một vài con số 0 vào sau. Chẳng hạn như vài chục ngàn thì cứ kêu vài trăm, có khi vài ngàn họ cũng nói đùa là vài triệu, tất nhiên khi đưa tiền thì chỉ là vài ngàn, chục ngàn thôi. Cô bán hàng nhìn tôi bảo "Hai trăm nghìn là quả be bé kia kìa, chứ quả to này phải ba bốn trăm đấy. Phật thủ mà em!".

untitled


Theo tôi biết thì Phật thủ múi như múi bưởi nhưng bé hơn rất nhiều. Chủ yếu là cùi và hương thơm, các tay chơi cây kiểng hay những người một lòng hướng Phật thường mua về chưng chứ không ăn được. Chị em tôi không phải tay chơi kiểng, hướng Phật thì có nhưng sùng đạo đến mức phí vài trăm ngàn cho một quả Phật thủ bé tí thế này thì không. Thế là tôi với Bá dội ngược trở ra. Vấn đề ở đây là tôi không biết lối buôn bán ngoài này thế nào. Cứ thế đi ra không chừng lại bị dập cho một trận te tua. Trong Nam nhiều chỗ vẫn vậy, sáng sớm mở hàng, vào hỏi hỏi không mua gì là cứ liệu hồn. Không chửi thì người ta cũng đốt phong long trù ếm, xua đuổi như tà ma… Thôi thì cứ theo cách trong Nam vậy, tôi với Bá rinh một túi cam chỗ hàng chị rồi yên ổn đi tiếp. Hóa ra, có những cách ứng xử dùng ở miền nào cũng có thể khiến người ta hài lòng. Dạo một vòng quanh chợ nữa cũng chẳng thấy đặc sắc lắm. Hơn 6 giờ rồi mà chợ mới lác đác một vài người…Quay trở ra, tôi và Bá vẫn buồn cười về quả Phật thủ lúc nãy. Thêm một túi cam lủng lẳng bên balô của Bá. Tò mò trước những gian hàng rong bán thức ăn sáng như bún, bánh cuốn hay trứng vịt lộn… Ngạc nhiên vì cũng là quán cóc nhưng ở đây người ta có cách ngồi ăn rất lạ, ngồi xổm và đặt tô, chén, dĩa trên một cái ghế nhỏ, thế là xong. Không như Sài Gòn, quán cóc nhưng cũng phải cho ra một cái quán có bàn ghế, đàng hoàng. Chẳng hiểu đây có phải là nét văn hóa của ngoài này hay chỉ là vài trường hợp ở những con đường tôi và Bá đi qua? Như ở Sài Gòn cũng có những trường hợp ngoại lệ, quán cóc không cần bàn ghế, khách nằm ngồi lê la, ngổn ngang: Khu trước cổng trường Đại học Kiến trúc. Đi tiếp, lần này là hướng ra hồ Gươm. Đi mải miết qua những cửa hàng bán vải vóc làm tôi liên tưởng đến đường Đồng Khởi ở Sài Gòn. Khác chăng là cái nhỏ, hẹp của nó, với lại trước mỗi gian hàng dù cửa kính sang trọng hay cửa gỗ, cửa kéo bình dân cũng thường có một bà cụ bán hàng nước với độc một cái khay đựng ấm trà, vài ba chiếc ly nhỏ, một cái ghế gỗ cũng nhỏ nốt. Chỗ nào cũng chỉ thấy chừng một, hai vị khách ngồi lại hớp một ngụm trà, tán chuyện gẫu cho vui. Đi ngang qua trường Dược ở Hà Nội. Vẫn cái nước sơn vàng quen thuộc, tôi tự thắc mắc không biết bên trong có rộng hơn cái vẻ bề ngoài của nó không nhỉ! Cuối cùng, hai chị em cũng hỏi được đường ra hồ Gươm, qua phố Cầu Gỗ. Bác chỉ đường bảo gần lắm, gần lắm mà hai chị em đi rã cả chân mới tới. Cũng may có hai người trò chuyện nên không thấy mệt bao nhiêu. Hồ Gươm cũng là bến, là điểm dừng của một vài tuyến xe buýt nên nhộn nhịp những xe ra vào. Hồ Gươm đúng là mênh mông nếu so với bất kỳ cái gì chứa nước ở Sài Gòn và thật khập khiễng nếu đem so nó với hồ Con Rùa. Có chăng so với hồ Xuân Hương ở Đà Lạt thì được! Từ ông cụ bà lão đến thanh niên nam nữ đều kéo nhau ra hồ Gươm đi dạo, trò chuyện, tấp nập như bất cứ một điểm tham quan nào ở Sài Gòn. Tuy nhiên, nó vẫn có sự tĩnh lặng cần thiết, có lẽ là đặc trưng hơi thở của Hà Nội. Tôi và Bá chọn chiếc ghế đá nhìn thẳng ra Tháp Rùa với Bưu điện Hà Nội, ngồi bóc cam ăn ngon lành. Thật phí nếu ở đây mà không có tấm hình nào kỷ niệm. Hai chị em bước xuống cả bậc tam cấp của hồ Gươm để chụp hình. Ngồi mãi ngắm nghía những người xung quanh rồi lại đi vòng khắp hồ Gươm. Hồ rộng quá, cứ mỗi góc độ lại thấy ở hồ một khung cảnh khác lạ. Nếu so với vẻ đẹp của một cô gái, nơi nhìn thẳng ra Bưu điện Hà Nội, trông hồ Gươm hiền hòa và trầm lắng như cô thiếu nữ mang vẻ đẹp truyền thống, cổ điển. Nơi nhìn thẳng ra cầu Thê Húc, thấy một hồ Gươm như cô thiếu nữ mang nét đẹp lộng lẫy, kiêu sa. Nơi lại thấy một hồ Gươm như cô gái hiện đại với ồn ã và nhộn nhịp của những quán cà phê vây quanh. Khuôn viên bao quanh hồ Gươm được chăm sóc kỹ càng với những bồn hoa, cây cỏ được xén tỉa, tưới nước thường xuyên. Tôi và Bá dừng lại ở một bậc tam cấp có thể thấy được những cành cây xương xẩu, cổ thụ nằm là là trên mặt nước. Nếu không sợ rơi xuống hồ, dám tôi cũng với lấy một cành đem về. Xung quanh chúng tôi là bóng cây tỏa rợp với những thân cây đang chao nghiêng theo chiều gió. Thích chí khi tôi phát hiện ra tòa soạn báo Nhân Dân nằm kề bên. Tờ báo đầu đàn chi phối phương hướng của nền báo chí trước giờ, nằm sững sững, uy nghi với cây xoài cổ thụ có cành lá xum xuê che khuất một góc tòa nhà. Kiến trúc này làm tôi liên tưởng đến Tòa án nhân dân Thành phố ở Sài Gòn dù chúng không đến nỗi giống nhau như hệt. Đi về phía đền Ngọc Sơn, phát hiện ra đa số thợ chụp hình ở đây là phụ nữ, điều này mãi về sau tôi mới thôi không thắc mắc khi thấy ở Sài Gòn cũng có rất nhiều thợ chụp hình nữ, đặc biệt trong dịp lễ tốt nghiệp ở các trường Đại học. Rời hồ Gươm, sang bên kia đường, hai chị em cũng táy máy với những gian hàng đồ len san sát nhau nhưng rồi chẳng ưng ý chọn được cái nào. Dừng lại ở một quán bún riêu ốc. Bá ngỏ ý muốn ăn trưa luôn. Quán thấp và cũng có khá nhiều thanh niên vào ăn. Nam nữ Hà Nội độ tuổi phổ thông xem chừng ăn diện hơn Sài Gòn nhiều. Ấy là tôi đoán vậy, qua cách trò chuyện, ăn mặc của vài đôi trong quán lẫn rất nhiều cặp chúng tôi gặp trên đường. Hoặc có thể là do tôi cứ so sánh những mốt này với phong cách quê mùa, lỗi thời ở Sài Gòn của mình cũng nên. Món bún riêu ốc với những vị rau là lạ vẫn không làm thỏa mãn khẩu vị của tôi và Bá. Đi vào phố ẩm thực. Hai chị em muốn thử lại “tập hai” để không vì một món nào đó mà có cái nhìn khác về ẩm thực Hà Nội. Bánh cuốn. Quán xinh xinh với bàn ghế gỗ nhỏ nhắn, giống một gian nhà ấm cúng hơn là quán. Bán hàng là đôi vợ chồng già. Bà cụ luôn tay tráng bánh còn ông lão phục vụ, bưng bê. Dường như khách ở đây chủ yếu là khách quen, thấy chủ khách nói chuyện thân tình như hàng xóm. Chủ - khách đang hỏi thăm nhau chuyện sắm sửa Tết, rồi hai cụ lại than với nhau về cái phố ẩm thực ế ẩm này. Lập ra rồi để đấy, chuyện này cũng chẳng xa lạ gì. Món bánh cuốn được dọn ra làm tôi phân tâm. Ở nhà, tôi vẫn hay ăn món bánh lá với nước chấm chua kiểu này nhưng sao cái vị vẫn khác kia. Mỗi món ở mỗi nơi là một vẻ, một vị nhưng bánh cuốn ở nơi được gọi là Phố ẩm thực trong lòng Hà Nội vẫn không đủ cuốn hút hay để lại ấn tượng đặc sắc gì nơi tôi. Với Bá còn tệ hơn nữa vì Bá vốn kén ăn, sành ăn hơn tôi. Hay tại chúng tôi lúc nào cũng nghĩ về Hà Nội như một vùng đất của văn hóa ẩm thực cùng sự tưởng tượng thái quá về nó nên chẳng món gì ở đây có thể đáp ứng nổi cái sự ngon trong trí tưởng tượng của mình? Hay tại chúng tôi ăn chưa đúng chỗ? Tưởng tượng như tới Sài Gòn mà chạy ra Đồng Khởi để ăn hàng! Đi ngang qua tượng đài vua Lý Thái Tổ với hai chậu tắc thật to. Người người qua lại đứng chụp hình bên bát nhang nghi ngút khói. Thật khó để lấy cho trọn vẹn tượng vị vua đặt nền móng cho đất thủ đô ngày nay cùng hai cây tắc vàng ươm, có lẽ vừa được đem ra trang trí trong dịp Tết. Quanh đó, chúng tôi có thể nhìn thấy vài cơ quan hành chính của thành phố như Thành ủy, Ủy ban nhân dân… Những phố mà chúng tôi tiếp tục đi đầy ắp những hoa, quà, bánh mứt ngày Tết. Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường. Bá thích mắt trước những gánh bưởi quả nào quả nấy căng tròn, màu cam tươi rói thật đẹp mắt. "Bưởi đào, hai mươi nghìn một quả." Bá mua được với 3/4 cái giá ban đầu và hớn hở với quả bưởi vừa đẹp vừa lạ mắt làm tôi cũng quên khuấy mất là trước đó mình đã nhìn thấy những chị bán hàng bưởi này ngồi tỉ mẫn dùng keo 502 dán cành lá tươi nguyên vào quả! Lang tang theo những con phố đó, chúng tôi đến Hàng Chiếu rồi khựng lại ở một nơi tấp nập nào người, nào xe, nào hàng quán và những lời chào mời: Chợ Đồng Xuân. Tôi muốn vào cái chợ đã quen tên này lắm nhưng đành phải nuối tiếc đi qua vì không thể làm ngơ trước những câu rền rĩ than mỏi chân của Bá nãy giờ. Cạnh đấy, Hàng Lược như một chợ hoa nho nhỏ, khắp đường là hoa là chậu, là cành và những vật dụng trang trí cây cảnh. Lướt qua vài loại hoa, không phong phú lắm, ở miền Bắc tất nhiên thông dụng nhất vẫn là đào. Các chợ hoa ở Sài Gòn cũng có đào nhưng đến đất của nó bao giờ chẳng là nhất. Chỉ có điều, tôi không tìm ra cây đào nào đẹp như những hình ảnh tôi vẫn xem trên ti vi hay mạng internet! Đi qua phố Gầm Cầu, tôi vẫn ngoái lại nhìn cái biển Hàng Cót đầy luyến tiếc vì không được khám phá. Chừng 10 giờ, trời lên nắng, ko nhàn nhạt nữa mà đã đủ để làm toát mồ hôi, chỉ lạ là mỗi đợt gió thổi qua vẫn làm tôi với Bá khẽ rùng mình. Chúng tôi đang ngồi tại một khuôn viên, ngay trạm xe buýt đầu đường Phan Đình Phùng. Bá ngồi nghỉ, bóc ăn nốt những quả cam còn lại. Tôi ngó nghiêng xem mình có thể đi hướng nào để đến lăng Bác, hình như cũng ở gần hồ Tây, một công đôi chuyện luôn thể. Trên bản đồ, tôi thấy nơi chúng tôi ngồi cách hồ Tây không xa, có xe buýt ra đó. Chạy lại năn nỉ Bá nhưng Bá nhất quyết không đi được nữa! - Bộ mày không biết mệt hay sao hả? Đi sáng giờ rã hết hai chân rồi nè!Quả thực nhìn lại chặng đường hai chị em đã cuốc bộ đi, không ngắn chút nào. Tôi cũng mệt, cũng mỏi chân nhưng cái háo hức muốn đi nó mạnh hơn sự mệt mỏi. Tôi cố thuyết phục:- Ra hồ Tây đi, gần đây lắm. Đi chút xíu nữa thôi rồi về. Có xe buýt ra đó mà!Nhưng nghe tới xe buýt, Bá lại càng giãy nãy lên:

- Không đi xe buýt đâu, nhức đầu lắm. Ngồi đây một lát rồi về. Mày có đi thì đi một mình đi!

Không lẽ để Bá ở lại mà đi chơi? Bá biết tôi không thể làm vậy được nên mới nói thế. Tôi đành tiu nghỉu ngồi nghỉ cùng Bá rồi đi một đoạn nữa ra bến xe Long Biên để đón xe về Phủ Lỗ. Ấm ức vì chưa "thỏa chí" đi chơi nhưng lại chùng lòng khi thấy Bá gà gật đầy mệt mỏi trên xe. Có lẽ, Bá cũng chịu được thêm mỗi chuyến xe này nữa thôi. Nắng trưa gay gắt. Không còn nhận ra Hà Nội, nếu không có chất giọng Bắc lao xao, chắc tôi cứ ngỡ mình đang trên một chuyến xe buýt nào đấy ở Sài Gòn.

(Còn tiếp)


Phần 1

Phần 2

Phần 4

Phần 5

Hạnh phúc

* Hạnh phúc = Trao đổi + chia sẻ + kết nối yêu thương = My name. Nếu hạnh phúc đơn giản chỉ là những nụ cười, tôi muốn níu mãi những nụ cười bất tận, cùng bạn bè, gia đình và những người tôi yêu thương!
* Cuộc đời chỉ có một, mong muốn tình yêu cũng có 1 nhưng lại có duyên với... số 2 ^^.